Thế Giới Trẻ Em – Phần Mở Đầu

Lại một lần nữa, thêm một lần nữa tôi trở về chốn này. Tôi đứng đây, chỉ đứng mà chẳng nghĩ ngợi gì cả, đầu óc trống rỗng, thân thể bải hoải, cặp mắt đờ đẫn dõi theo dòng nước đục ngầu của dòng Sunzha. Còn dòng sông, như bao năm nay, vẫn chảy, nhưng tôi có cảm giác, trong đó không còn niềm khát vọng và nhiệt huyết như trước nữa. Tất cả, như mùa đông, đãđến lúc phải dịu lại.

Bản thân tôi cũng đã đến lúc phải bình tâm trở lại, phải lùi lại và quên đi tất cả. Nhưng tôi không thể. Tôi cần phải, tôi buộc phải kể về những lỗi lầm của mình, về lỗi lầm chung và tấn bi kịch chung của tất cả chúng tôi… Không phải lần đầu, cũng chẳng phải lần thứ hai tôi đến nơi này, và tôi chờ cho đến khi đã nạp đủ năng lượng để có thể bắt tay vào thực hiện bức tranh tâm huyết của đời mình. Nhưng, than ôi!… Không hiểu tại sao, lúc nào tôi cũng nhớ lại một câu trong đoạn mở đầu tác phẩm Người thy đu tiên của Tsinghiz Aitmatov: “Tôi sợ không mang được đến nơi, tôi sợ làm sánh bát nước đầy”, thật đáng tiếc là tôi đã lặp lại điều đó. Tôi cảm thấy đầu óc trống rỗng, mất hết mọi cảm hứng, nhưng tôi vẫn hy vọng, tôi sống bằng niềm hy vọng, tôi rất muốn vẽ được bức tranh quan trọng của đời mình. Và không chỉ một lần tôi đã bắt tay vào việc, nhưng tôi không dám, tôi không thể, tôi không đủ sức, tôi sợ hãi. Mơước về bức tranh đó, tôi đã tốn không biết bao nhiêu màu sắc, mà không chỉ có vậy, còn bức tranh thì vẫn cứ ám ảnh tôi. Và để có thể bắt đầu từ một điểm nào đó, tôi lại quay về nơi ấy, đứng rất lâu, cảm nhận sự đau đớn cùng những lỗi lầm và ngẫm nghĩ về những mất mát. Song, tôi cũng chẳng thể nghĩ ra điều gì, chỉ còn lại ký ức, và tôi cũng chẳng nhìn thấy gì, tôi chỉ hướng cặp mắt về phía mặt sông ảm đạm gợn sóng nhưđang xem một bộ phim rực rỡ sắc màu với một kết thúc khủng khiếp. Dù không muốn xem bộ phim ấy, nhưng tôi không thể dứt ra được. Tôi đã bỏ đi nhưng có một cái gì đó cứ níu kéo tôi lại, vẫy gọi tôi, làm ngực tôi đau nhói, và thế là tôi lại đến cái hoang mạc này, nơi những đám cỏ dại bị khô úa vào mùa đông xuyên qua lớp nhựa đường và bê tông cũ, nhưng rồi lại đơ ra như từ thời xa xưa… Chỉ có dòng Sunzha là vẫn chảy, nó nhìn thấy hết, biết hết, nhớ hết… Và tôi cũng nhớ.

Tôi nhớ, nơi đây từng là thành phố Grozny tươi đẹp và tràn đầy sinh lực. Nhiều người bảo, hiện giờ Grozny cũng vậy, nhưng là nói thế thôi, chứở đây, giờ trông như hoang mạc, xa một chút là những đống đổ nát, chỉ còn lại cái tên hung dữ của thành phố[1] với những tâm hồn thiếu bản sắc như bóng đen, tất cả đều khoác một màu đen dẫu là mùa đông tuyết phủ trắng, tất cả đều mang vẻ u ám, nặng nề và buồn bã. Nhưng dẫu có thế nào đi nữa, tôi chỉ nhớ đến một thành phố Grozny đẹp như mơ, nơi tôi đã sinh ra, lớn lên, học tập rồi làm việc. Chính tại chỗ này, dạo còn trẻ, tôi đã từng đứng rất lâu. Tại đây, bên bờ sông Sunzha từng có một công viên tráng lệ, quanh năm hoa lá xanh tươi, với đài phun nước cùng những con đường rợp bóng cây, và một cây cầu vắt ngang sông Sunzha. Sau đó, khi người ta xây cây cầu mới lớn hơn, cây cầu cũ này chỉ dành cho người đi bộ, hai bên thành cầu là những bồn hoa màu sắc sặc sỡ. Chính vì vậy mà cây cầu được gọi là Cầu hoa. Cây Cầu hoa này dẫn đến một tòa nhà cổ, đẹp đẽ, hình bán nguyệt. Một nửa tòa nhà dành cho các cơ quan nhà nước, nơi trước đây người bạn gái yêu quý của tôi đã làm việc và buổi chiều sau giờ làm tôi lại đến chống tay lên thành cầu đợi cô ấy. Một nửa tòa nhà còn lại dùng đểở, tầng một là những gian hàng lớn lắp kính với rất nhiều, rất nhiều đồ chơi – đó chính là cửa hàng bách hóa tổng hợp “Thế giới trẻ em”. Phải, tôi cũng có một thế giới trẻ em của mình, nói chung đó là một thế giới hoàn toàn khác cho tới khi trưởng thành. Và tôi là người rất may mắn! Những đứa trẻ hiện nay ở Grozny có một tuổi thơ và tuổi trẻ ra sao? Đó mới là điều đáng nói. Nhưng làm thế nào để cho mọi người biết? Xung quanh là một khoảng trống đáng sợ, thậm chí cũng chẳng còn lại gì từ những cây cầu, chỉ còn lại vài tấm bê tông bám vào trụ cầu phủ đầy tuyết, chắc là chờ cho đến một lúc nào đó người ta cẩu chúng lên để xây dựng lại. Và tôi cũng chờ, tôi mơước dựng lại cây cầu của mình, đúng ra là cây cầu nối về quá khứ, nhưng không phải là cái quá khứ sặc sỡ tỏa hương thơm ngát khi tôi còn nhỏ và trai trẻ. Tôi biết, chẳng thà không có cái thời ấy và đừng bao giờ có còn hơn… Phải, tôi muốn nói về quá khứ khác. Về tuổi thơ của người khác, về một thời kỳ khác mãi sau này mới diễn ra. Quả thật, những cây cầu vẫn còn đó, nhưng sự đổ vỡ đã diễn ra rồi.

Chuyện xảy ra vào thời kỳ nổ ra cuộc chiến Chechnya lần thứ nhất[2], cuộc chiến của các phiến quân[3]. Chiến tranh ở Chechnya – chỉ diễn ra ở Chechnya, vì từ thời xa xưa, ở nơi rừng sâu núi thẳm, người ta đã quá quen với các cuộc chiến tranh. Còn các nhóm phiến quân lại rất cần đến chiến tranh, bởi lẽ đó là bối cảnh, là cột thu lôi dư luận, là tấm phông màn màu mè, mà đằng sau tấm bình phong đó là một cuộc chiến không kém phần khốc liệt để tranh cướp tài sản quốc gia, để những kẻ mạnh phân chia lại thế giới.

Thôi, Thượng đế phù hộ cho họ… Mà chẳng lẽ Thượng đế lại đứng về phía họ hay sao? Ôi, sao tôi lại nói thế nhỉ! Thật là phạm Thánh?! Tôi đâu có muốn nói về chuyện đó, hoàn toàn không… Tóm lại, trong cuộc chiến lần thứ nhất ở Chechnya, tôi nhớ, cũng như bây giờ, dạo ấy là mùa đông, hình như trước Năm mới, năm 1996. Tôi bay từ Moskva về quê, về Chechnya thăm cha mẹ già mà tôi không thể thuyết phục được họ rời bỏ quê hương. Chuyến đi của tôi phải vòng qua thành phố Grozny, với nhiều “chặng chuyển tiếp”, qua rất nhiều trạm kiểm soát liên hợp với những hàng người nối nhau rồng rắn, bị kiểm tra, thu phí, chấp nhận sự nhẫn nhục và xúc phạm. Mặc dù vậy, tôi vẫn về được đến nhà, ở đấy có mái nhà thân yêu che chở. Tiếng đại bác và tiếng máy bay gào rú suốt ngày không ngớt, trở thành một đặc điểm không thể tránh khỏi của cuộc sống thường nhật, ít ra là người dân địa phương đã quen với tất cả những điều đó, chỉ có điều trái tim của một số người không chịu đựng nổi – vì chúng không được làm bằng sắt. Mặc dù vậy, cuộc sống ở một ngôi làng gần trận tuyến vẫn tiếp diễn, nơi đây vẫn có chợ, có chỗ để thư giãn (miễn là có tiền). Sau hai ngày thăm thú bà con họ hàng, tôi quyết định vào thành phố Grozny: Tôi có việc phải giải quyết, một con nợ cũ đã lâu của tôi, giờ là quan chức của chính quyền mới đang tham gia xây dựng lại thủ đô sau khi bị ném bom, chắc là có tiền. Những người thân khuyên tôi không nên đi vì rất nguy hiểm, khắp nơi vẫn còn bắn nhau loạn xạ, đối với những người không phải dân địa phương, bộ dạng có vẻ giàu có như tôi, chắc chắn sẽ toi mạng ngay tại các trạm kiểm soát liên hợp. Nhưng dẫu sao đi nữa, tiền bạc bao giờ cũng có sức mạnh, thế là người em họ nhận lời chở tôi vào thành phố, không đi đường thẳng mà đi đường vòng nhưng sẽ nhanh hơn vì tránh được những hàng người dài cả cây số bên các trạm kiểm soát. Tuy nhiên, đường này cũng có trạm kiểm soát, chỉ có điều yên tĩnh và vắng vẻ hơn, mặc dù đã là mùa đông nhưng đá vẫn lăn từ trên núi Argun xuống. Một quân nhân liếc vào chứng minh nhân dân của tôi, thấy nơi đăng ký cư trúở Moskva, liền nhìn thẳng vào mặt tôi khá lâu, khệnh khạng bỏ tay ra khỏi xe, lẩm nhẩm điều gì đó, chăm chú quan sát tôi từ đầu đến chân, rồi hướng ánh mắt vào chiếc áo bành tô dài đắt tiền của tôi.

– Đi theo tôi. – Anh ta lẩm bẩm qua kẽ răng, ngạo mạn bóp trong tay thẻ căn cước rồi đi về phía hầm trú ẩn bằng bê tông cốt sắt.

– Anh ơi, anh ơi! – Tôi vừa chạy theo vừa kêu lên và đưa tay vào túi.

– Tôi quá biết các vị “bác học”. – Tiếng anh ta vọng lại sau tấm lưng to bè. – Tất cả đều là một lũ ăn cướp, nhìn mặt anh là biết ngay.

Không thể dềnh dàng hơn được nữa, chỉ còn chục bước là đến cái hầm trú ẩn u ám kia, tôi thận trọng nắm vào tay áo khoác ngắn của anh ta, vượt lên, đứng trước mặt và cố ép anh ta nhận tiền.

– Tránh ra. – Anh ta khinh bỉ nhìn vào mớ tiền tôi nắm trong tay. – Trong kia có đặc phái viên đang chờ đấy.

Đẩy tôi ra, người quân nhân định dợm bước, nhưng ngay lúc ấy, cậu em họ tôi chạy tới, nói gì đó về nghề nghiệp của tôi, rồi mạnh dạn dúi vào tay anh ta đồng bạc rúp có mệnh giá lớn, quan sát thái độ, dúi tiếp một đồng nữa, rồi đồng thứ ba. Sau vài giây im lặng, cậu em họ gần như ra lệnh cho tôi: “Đưa cho anh ấy tờ xanh!”. – Tôi thọc tay vào túi bên kia, nơi có hai tờ một trăm đô.

– Thôi được rồi, đi đi. – Người quân nhân mỉm cười. – Tôi sẽ báo cho trạm gác sau để họ cho các anh qua.

Chúng tôi vội vàng chạy về xe, nhưng chỉ vừa lăn bánh, một người dân địa phương đã ngăn chúng tôi lại.

– Đừng đi về hướng đó, đừng đi. – Người đàn ông kêu lên bằng tiếng Chechnya. – Anh tôi cũng ở nơi khác đến, mới cách đây mấy ngày đã đút tiền cho trạm gác đó, nhưng sang ngày hôm sau thì mất tích luôn, chẳng thấy tăm hơi đâu, không ai biết gì về anh ấy, cũng chẳng có ai chịu trách nhiệm gì cả.

Chẳng cần nghĩ ngợi lâu, chúng tôi vội vàng quay xe lại nhưng vẫn nghe tiếng người vọng vào cửa xe:

– Này, anh kia, biến đi ngay! Tôi mà nhìn thấy mặt anh một lần nữa thì coi chừng. – Tiếp ngay sau là một câu chửi rất tục tĩu, rồi một tràng tiểu liên, chúng tôi vội thắng xe, nhìn lại, ơn Chúa, bắn lên trời, chúng tôi lại lăn bánh, và tôi có cảm giác cậu em họ, không hiểu sao mỗi khi gặp ổ gà đều giảm ga để tránh mảnh sắt gì đó.

Nhưng chỉ sau hai ngày thì mọi chuyện đã rơi vào quên lãng: Tiền thì lúc nào cũng cần, nhất là trong thời buổi chiến tranh, và tôi quyết định đến thành phố Grozny bằng cách khác, đơn giản hơn, bằng xe buýt mini chạy theo tuyến. Con người phải thích nghi với mọi hoàn cảnh. Ở các trạm kiểm soát liên hợp, chủ nghĩa nhân văn được thể hiện rất rõ: Phương tiện giao thông công cộng không phải xếp hàng dài cả cây số, tất cả lái xe đều biết – nộp phí theo giá quy định rồi thẳng tiến, đến tận Grozny cũng được!

Thành phố Grozny… Chẳng lẽ là nó đây ư? Làm sao lại đến nông nỗi này? Và nếu như lúc ấy, tôi biết đó mới chỉ là “khúc dạo đầu tệ hại”, chắc là tôi sẽ không chịu đựng nổi. Khi đó, dẫu có tức giận đến đâu tôi cũng đành phải cắn răng, cố xoa dịu trái tim đau nhói để tự dối lòng, hoặc cố nghĩ về chuyện riêng của mình, về con nợ, về tiền bạc để xua đi ý nghĩ: Dù được sinh ra ở Grozny, nhưng giờ tôi không còn là người Grozny nữa, mà là người Moskva, ở đó tôi có căn hộ, có công việc và gia đình.

Vừa bước xuống từ chiếc xe buýt nhỏ, tôi gọi ngay taxi. Tài xế hóa ra không phải người Grozny, thậm chí quê ở rất xa. Tuy nhiên, giờ anh ta đã là người Grozny, có thể đã quen, đã bám rễở đây, hay là đang cố che giấu bản thân, nhưng nhìn bề ngoài không có vẻ gì là buồn chán – có thể chở khách đi bất cứ đâu miễn là trả tiền, không thể khác được, mà làm gì có chỗ nào hành xử khác? Thật ra, tài xế không biết tên đường mà chỉ định hướng theo các tuyến: Chợ – nhà ga – trạm kiểm soát liên hợp.

Bù lại, tôi nhớ hết, cho dù Grozny không chỉ một lần bị ném bom, nhưng tôi vẫn nhận ra tất cả. Ở lối vào trung tâm, niềm hy vọng được sưởi ấm dần lên: Người vẫn đông, chợ vẫn họp bên những đống đổ nát, dù có vẻ hơi bị phân tán nhưng trong chợ hình như mọi thứ đều có.

Chính quyền mới ở Chechnya làm việc trong tòa nhà Viện Nghiên cứu khoa học, và ở đây khung cảnh hỗn độn như trước một buổi diễn.

Lối vào tòa nhà được các thanh niên dáng vẻ hùng dũng bảo vệ, trên ngực áo in hàng chữ “OMON Moskva[4]”. Người ta không nhận ra tôi là người đồng hương, lạnh lùng bảo tôi đến phòng cấp giấy phép, tại đây cũng lại một cảnh hỗn độn, yêu cầu phải có đơn, tóm lại là một vòng tròn khép kín. Hai giờ liền tôi lang thang giữa những đống rác thành phố, nhìn vào đồng hồ rồi nhẩm tính đã đến lúc phải quay về nhà thì bất ngờ gặp một người quen cũ – giờ là công chức hạng trung, có thể dễ dàng đưa tôi đến trước căn phòng cần tìm.

Con nợ của tôi hóa ra là một quan chức cỡ bự, nói chung là trong bất cứ chính thể nào anh ta cũng xoay xở được. Phòng khách rộng, hai thư ký riêng, thậm chí có cả bảo vệở đây nữa. Tuy nhiên, đứng trước thành trì cuối cùng này tôi vẫn phải tỏ ra lanh lẹ và cương quyết. Thoạt đầu chủ nhà hơi bị bất ngờ, đớ người ra, khuôn mặt dài thượt, nhưng ngay sau đó anh ta mỉm cười rất nhã nhặn, xăng xái đứng dậy khỏi bàn vừa ôm vừa xoa xoa lưng tôi, mời tôi ngồi rồi kêu lên: “Trà, rượu”.

the-gioi-tre-em

Tôi từ chối rượu Cognac, còn chủ nhà thì luôn miệng than phiền về việc anh ta gặp rất nhiều khó khăn trong việc khôi phục lại thành phố Grozny, đến nỗi chút nữa tôi đã buột miệng “Thì chính các anh đã phá hủy nó”. Mặc dù vậy, tôi vẫn phải mệt mỏi chen vào:

– Xin anh hãy trả nợ cho tôi.

– Ồ, phải, phải, dĩ nhiên rồi, tôi cũng vừa nhớ đến nó… Này, hai ngày nữa cậu ghé lại được chứ?

Ngay lập tức tôi hình dung ra chuyến đi khổ sở thế nào, liền cương quyết tuyên bố:

– Không có tiền, tôi sẽ không rời khỏi đây đâu. Cậu đã xỏ mũi tôi suốt năm năm rồi.

– Nhưng ai lại mang số tiền lớn như vậy trong túi bao giờ? – Anh ta cười mát.

Tình cảnh làm tôi điên tiết, vậy mà anh ta còn nói bằng cái giọng như thế.

– Tôi cũng đang nợ ngập đầu, và không có tiền tôi sẽ không đi đâu hết! – Tôi lên giọng nhắc lại đến mức người bảo vệ phải thò đầu vào.

– Được rồi, được rồi. – Chủ nhà bật dậy, nhìn vào đồng hồ. – Hiện giờ mình có một cuộc hội ý với bên quân đội, khoảng mười lăm, hai chục phút. Sau đó mình sẽ giải quyết ngay việc của cậu. Cậu cứ ngồi chờ mình ở phòng khách… Các cô đâu, mang trà và cà phê vào cho khách!

– Tôi còn phải đi rất xa, về tận làng. – Tôi buồn bã nhắc.

– Đừng lo, cậu sẽ về bằng xe của mình với giấy phép đặc biệt, thậm chí có cả bảo vệ nữa. – Lúc ra đến cửa, anh ta còn thêm: – Hay tối nay cậu nghỉ lại chỗ mình? – Anh ta nháy mắt, khoa tay một cách bí hiểm, thì thầm: – Thư giãn từ A đến Z, ở Moskva không có đâu.

– Ở nhà mọi người đang đợi tôi. – Tôi cố làm ra vẻ nghiêm túc.

Khi tôi đã uống đến ly trà thứ hai, thì chiếc máy bộ đàm của người bảo vệ réo lên, anh ta liền bước ra ngoài. Sau đó một cô thư ký cũng đi ra, còn cô thứ hai trả lời rất to qua điện thoại rằng, ngày hôm nay và một tuần nữa thủ trưởng sẽ không có nhà, ông ấy đi công tác. Tôi cứ ngồi và ngẫm nghĩ mãi về cách đối phó với những kẻ ngoại lai rách việc, cho đến khi cô gái nói:

– Hết giờ làm việc rồi anh ạ. Em phải niêm phong cửa rồi nộp chìa khóa cho bảo vệ.

– Cái gì-ì? – Tôi lắp bắp, – Anh ta không quay lại nữa à?

Lại một lần nữa rơi vào hoàn cảnh lố bịch, đầu óc mụ mị, tôi cố rời khỏi tòa nhà rộng lớn, vắng hoe, nhưng người ta không cho tôi ra – đòi phải có giấy phép với sự xác nhận gì đó, trong khi tôi chẳng có giấy tờ gì cả. Hoàn hồn, tôi sực nhớ đến thói quen của cảnh sát Moskva, liền đưa tay vào túi lấy ví tiền, vừa lúc đó cô thư kýđến kịp, giúp tôi rời khỏi tòa nhà.

Trời đã tối. Gió xoáy đuổi theo những bông tuyết khô cứng, thưa thớt. Dấu vết còn lại của đám đông là hàng ngàn dấu chân trên mặt tuyết cứng u ám và sự tĩnh lặng khác thường, chỉ có tiếng bước chân vội vã rồi lặng dần sau khúc ngoặt.

Tôi kéo cổ áo lên, co ro đi về phía chợ, chân cố bước nhanh. Sau góc đường là bóng tối của thành phố đã bị đóng băng. Tôi chạy, trượt chân, một, rồi hai lần, cố đứng vững, đến lần thứ ba tôi ngã sõng soài xuống cái rãnh. Sau đó, vừa nguyền rủa cả thế giới, tôi vừa chỉnh trang lại dáng vẻ nghiêm túc đã bị hư hại của mình nhưng lại càng bôi bẩn thêm. Nhổ toẹt vào tất cả, tôi cắm đầu chạy qua những khoảng sân mình vẫn thường chơi đùa thời niên thiếu và thanh niên. Và thật lạ, tôi không cảm thấy một chút tình cảm hay cảm xúc nào cả. Một thành phố xa lạ bị tàn phá ngổn ngang, và tôi đã chia tay với nó từ trước chiến tranh khá lâu. Thế còn tuổi thơ? Còn kýức? Hình nhưđiều đó không xảy ra với tôi, hay là trong một cuộc sống khác. Và niềm hạnh phúc ấy không muốn có mối dây liên hệ nào với những đống hoang tàn này…

Chợ đây rồi. Ở đây sôi động hơn, một người say rượu nào đó, cũng dính đầy bùn đất như tôi, nhưng chẳng có vẻ gì buồn bã, thậm chí còn cố hát một bài ca hùng tráng nữa. Dọc đường, tôi nhảy lên một chiếc xe buýt mini đông nghẹt, đành phải ngồi xổm ngay bậc lên xuống. Khi tôi còn chưa kịp mua vé, chiếc xe đã chạy đến cầu… Phải, đúng là chỗ này, nơi tôi đang đứng đây.

Cửa xe mở ra, chưa nhìn thấy mặt đã ngửi thấy mùi rượu nồng nặc và một mệnh lệnh thô lỗ:

– Đàn ông, ra hết! Giấy tờ tùy thân!

Tất cả giấy tờ đều được kiểm tra, riêng chứng minh nhân dân của tôi còn bị rọi đèn pin kỹ lưỡng.

– Anh từ Moskva đến đây làm gì? Làm gì? Thăm cha mẹ à? Thời tiết bẩn thỉu thế này sao ăn mặc sang trọng thế?

Trong khi tôi còn đang ấp úng thì bác tài nhảy ra, lượn một vòng quanh người lính, định dúi cho anh ta cái gì đó.

– Người này rất đáng nghi. – Người lính kết luận, và khi thấy lái xe vẫn chưa dừng lại liền giận dữ hét lên: – Còn anh, biến đi! Giải phóng đường, nhanh lên!

– Xin anh hãy cho anh ta đi. Trời tối rồi, anh ấy là bà con của tôi. – Lái xe vẫn không chịu đầu hàng.

– Tôi nói rồi, đi đi! – Người lính hét lên rồi bất ngờ xoay khẩu tiểu liên lại, găm một loạt đạn ngay dưới chân người lái xe.

Chiếc xe đành phải lăn bánh, rồi nó dừng lại, một câu nói bằng tiếng Chechnya vọng ra từ cửa xe:

– Này chàng trai, tên cậu là gì, cậu từ đâu tới?

Tôi đã định trả lời nhưng tất cả đều bị át đi bởi tràng tiểu liên ngay trên đầu chiếc xe buýt.

Tôi bị thúc vào lưng, trên đường đi, tôi cố hướng ánh mắt về phía chiếc xe buýt tiếp theo, hy vọng qua ánh sáng đèn pha có thể tìm thấy sự trợ giúp từ đâu đó. Nhưng ai mà nghĩđến chuyện trợ giúp, trong khi mỗi người đều phải cố mà sống sót, hành động của người lái xe đúng là một chiến công.

Một công trình xây dựng bằng bê tông cốt thép u ám nằm trên khoảnh đất được rào giậu kỹ lưỡng. Tôi bị dẫn qua một mê cung không dài lắm, nồng nặc mùi đồ hộp và khói thuốc, vào một căn phòng tương đối sáng sủa, có chiếc bàn gỗ rộng vương vãi đồ ăn thừa, những tấm phản gỗ, bên trên được phủ bằng những chiếc áo bông, bên dưới là những đôi ủng quân nhân méo mó, bẩn thỉu.

– Kuzma, dậy đi, có hàng đây… Hóa ra ngày hôm nay không phải là vô ích. – Người lính dẫn giải tôi hăng hái hét lên.

Một người đàn ông đang nằm thở phì phì, xoay người lại rồi chậm chạp ngồi dậy, lấy bàn tay bẩn lau rất kỹ khuôn mặt chảy sệ vì nằm lâu, sau đó, có vẻ nhưđã chán lật qua lật lại thẻ chứng minh nhân dân của tôi, liền uể oải cất tiếng:

– Bỏ tất cả các thứ trong túi lên bàn. Cả đồng hồ nữa… Đứng úp mặt vào tường. – Mệnh lệnh tiếp theo: – Giơ tay lên. Dạng chân ra, nữa, thế. – Và ngay lúc đó, một cú đá bằng ủng vào ngay ống quyển. Tôi bị lột mũ, áo bành tô, cả áo vét nữa, những bàn tay thô bạo sờ nắn khắp người, còn Kuzma tiếp tục tra hỏi:

– Tôi hỏi lại một lần nữa: Mục đích chuyến đi? Làm gì ở Moskva? Tài trợ cho bọn phiến quân phải không?

Còn rất nhiều những câu hỏi đại loại như vậy. Gục trán vào thành bê tông lạnh ngắt, tôi lảm nhảm thanh minh, thì ngay lập tức, như một bản kết tội:

– Dẫn anh ta lên Ban tham mưu.

– Xe bọc thép đi rồi.

– Hừ, lẽ ra xe phải ở lại cho đến sáng.

– Để làm gì? Như mọi ngày, chiều tối là họ chạy đến chỗ những người đánh cá bên sông Sunzha.

Không biết họ đùa hay thật, nhưng tôi chẳng còn tâm trí đâu mà đùa nữa, đầu gối run lẩy bẩy, bèn quay lại, van nài:

– Xin các anh hãy thả tôi ra! Các anh muốn lấy thứ gì cũng được nhưng hãy thả tôi ra. Tôi chẳng biết một phiến quân nào cả.

– Quay mặt vào tường! – Người ta lại hét lên, lấy báng súng dộng vào sườn, đau đến mức nghẹt thở, làm tôi phải im bặt, nhưng bản năng mách bảo tôi phải cố sống sót cho tới giới hạn cuối cùng, và trong sự im lặng khủng khiếp tôi cảm thấy hình như có một sự biến đổi nào đó, nhưđể khẳng định, tôi nghe thấy một giọng nam trung dễ nghe và có trọng lượng:

– Này Kuzmin[5], đêm nay lại muốn đến nhà chứa nữa chứ gì?

– Báo cáo đại úy, không ạ! Có một đối tượng rất đáng ngờ. Cần phải kiểm tra.

– Hay là ở lại đây với chúng tôi? Bây giờ sẽ ăn chiều. – Giọng nam trung nhẹ nhàng cất lên.

– Không ạ, không ạ, cảm ơn anh, tôi sẽ về nhà ăn cơm. Xin các anh hãy thả tôi ra, tôi không có lỗi gì cả. – Cứ tưởng người ta đang nói với mình, tôi không dám ngoái đầu lại, vội vàng năn nỉ.

– Câm mồn, đồ quái thai! – Giọng trầm sặc mùi thuốc lá, hét lên.

– Thôi đi! – Giọng nam trung ra lệnh.

Sau đó là một sự im lặng khủng khiếp. Và không hiểu sao nỗi lo sợ của tôi như biến đâu mất, tôi cảm nhận được điều đó một cách rõ ràng, một hơi ấm dễ chịu kỳ lạ chạy dọc sống lưng, lên tận gáy, cứ như là có ai đó đang xoa bóp giúp tôi. Tiếp theo đó, tôi nghe thấy tiếng bước chân nhẹ nhàng và cảm nhận bàn tay ấm áp của ai đó chạm vào người mình, nhưng tôi sợ, không dám quay đầu lại, chỉ biết liếc mắt nhìn xuống dưới, và đối diện với ánh mắt của tôi là đôi mắt trẻ em, to, màu nâu sáng, trong đó như hàm chứa một câu hỏi không bình thường, ánh mắt không phải nhìn vào mặt mà nhìn thẳng vào mắt, như muốn hiểu thấu tâm hồn.

Ánh mắt ấy chân thành, mê hoặc và nhân hậu đến mức như từ một thế giới khác làm tôi bất giác phải quay mặt lại bức tường bê tông lạnh ngắt.

Còn bàn tay xoa dịu cơ thể tôi lại đến từ hướng khác, tôi có cảm giác chúng suýt chạm cả vào túi, vừa như mời gọi, vừa như tăng thêm nghị lực. Một lần nữa, tôi lại đưa mắt nhìn xuống dưới, một lần nữa ánh mắt chúng tôi gặp nhau, nhưng lần này không lâu lắm, và một cơn sóng rung động như lan khắp cơ thể tôi. Thoạt đầu, tôi cảm thấy xấu hổ, sau đó là một cảm giác bình yên, thậm chí siêu thoát khỏi cái thế giới phù du này, giúp tôi bình thản lùi khỏi bức tường, khẽ chạm vào và xoa xoa đầu cậu bé. Khi tôi xoay hẳn người lại, thì ngay trước mặt tôi là viên đại úy trong bộ quân phục tề chỉnh.

– Thả chú ấy ra. – Câu đầu tiên tôi nghe được từ cậu bé, một giọng trầm, nhỏ, theo kiểu trẻ con và khàn khàn do cảm lạnh.

– Này, – Bằng một giọng rất lịch thiệp, thậm chí còn nhã nhặn nữa, viên đại úy cúi xuống trước cậu bé. – cháu biết không, chúng ta, những người lớn, có nguyên tắc riêng, không phải như trong truyện cổ tích đâu.

– Bà Uchital bảo, người lớn chẳng có nguyên tắc gì sất.

– Bà Uchital có thể đúng trong một số trường hợp nào đó. – Giọng nam trung muốn lái sang chuyện khác.

– Bà Uchital lúc nào cũng đúng. – Cậu bé cương quyết bác lại. – Bà là nhà vật-lý-thiên-văn. – Cậu bé đánh vần từng từ, giọng vẫn còn ngọng nghịu, ngừng một lát để lấy hơi, cậu tiếp: – Bà còn nói chuyện với các vì sao nữa. Vật lý thiên văn.

– Phải, đúng là một bà già độc miệng. – Một người nào đó ở trong góc châm chọc, những tiếng cười mỉa mai cũng từ trong góc đó rộ lên.

Viên đại úy chỉ mới cau mày nhìn về phía đó, ngay lập tức những tiếng cười im bặt, rồi lấy lại vẻ mặt bình thường, nghiêng đầu về phía cậu bé:

– Thế ngày mai cháu có đến không?

– Bà Uchital không cho phép vì ở đây bắn nhau.

– Cháu nói gì thế! Ở đây có ai bắn đâu?

– Vừa bắn đấy thôi. – Lời trách móc của cậu bé khiến tất cả chúng tôi, những người lớn như chết lặng đi trong giây lát, và nhưđể biện minh, theo quy định, người có chức vụ cao nhất trong phòng với giọng nam trung trả lời:

– À, chỉ bắn lên trời thôi, để giữ trật tựấy mà.

– Bắn không giữ được trật tự, chỉ làm đổ vỡ thôi, cha mẹ cháu mất rồi. – Cậu bé nhìn thẳng vào mắt viên đại úy, giơ tay chỉ vào khẩu tiểu liên, hét lên: – Bắn lên trời cũng không được, quả cầu của cháu đang bay trên trời! Buổi tối, khi cháu ngủ, nếu các chú không bắn, cha mẹ cháu sẽ từ trên trời bay xuống. Nhưng đêm nào các chú cũng bắn, lâu rồi cha mẹ cháu không xuống thăm cháu nữa… Quả bóng của cháu cũng không bay xuống nữa. Lúc nào các chú cũng bắn.

– Chúng ta không bắn, chúng ta chỉ chống trả bọn cướp thôi.

– Bà Uchital bảo, ai mang vũ khí, người đó là kẻ cướp.

– Đúng là con mụ yêu tinh hôi thối. – Trong góc lại xì xào.

– Phải cho con ngốc ấy một trận, đúng là phát rồ lên giữa đám mọi rợ.

– Ha-ha-ha! – Những tiếng cười điên loạn cất lên.

Chú bé đột ngột rời khỏi tôi và tất cả mọi người, đứng sát vào bức tường bê tông, thu mình lại, hai bàn tay nhỏ bé che lên đầu, chỉ có cặp mắt mở to, lấp lánh, chớp chớp liên tục, kinh ngạc hướng về phía những người lính nhưđể cố hiểu họ.

– Kuzmin! Mẹ kiếp! Cút ngay! Tất cả cút ngay ra khỏi đây! – Đại úy không còn giữ được vẻ lịch thiệp trong giọng nói nữa.

– Thôi, thôi, xin anh đừng xúc động quá như thế, tất cả chúng ta đang làm nhiệm vụ mà. – Một người nào đó vừa đi ra vừa lầm bầm, nhưng khi đã ra ngoài, anh ta liền cất giọng véo von: – Những viên đạn lạc, có thể đuổi kịp bất cứ lúc nào.

– Này, Iablotsko, cậu để mắt đi đâu thế? – Một giọng khàn khàn sặc mùi rượu vang lên. – Gặp phải tay tớ, miếng ngon đến miệng không sểnh được đâu.

Đại úy bước lại gần cậu bé, ôm chặt nó vào lòng, nghiêng đầu xuống hôn lên má nó, vuốt ve rồi thì thầm bằng giọng dịu dàng:

– Mai cháu sẽ đến với cây vĩ cầm chứ?

– Bà Uchital không cho cháu đến.

– Nếu vậy thì chú sẽ đến, chú sẽ nghe cháu chơi đàn. – Đại úy quỳ xuống, cài lại khuy áo khoác, cẩn thận lau sạch những vết bẩn đã khô trên ống quần cậu bé, rồi như vừa sực nghĩ ra: – Ngày mai chúng ta sẽ ra chợ, chú sẽ mua cho cháu đôi giày đông mới.

– Bà Uchital và dì Roza bảo, sắp đến Năm mới rồi, nhận lương xong sẽ mua quà và giày mới cho cháu.

Cậu bé đứng thẳng dậy, vẻ mặt tươi tắn, nhìn thẳng vào mắt đại úy, tin cậy đưa ngón tay bé xíu mân mê chiếc khuy đồng bóng loáng trên chiếc áo khoác ngắn của anh, trong khi đó, đại úy lại để ý đến chiếc giày đã bong đế của cậu bé và cố buộc chặt lại bằng một sợi dây.

– Có chuyện này nữa. – Mắt cậu bé sáng lên. – Nhà chúng cháu sẽ có cây thông, màu xanh, giống như trong tivi ấy, rồi ông già Tuyết sẽ đến, sẽ kể chuyện cổ tích cho cháu nghe và tặng cháu rất nhiều, rất nhiều quà. – Cậu bé giơ tay lên. – Kẹo này, chocolate, táo và cả chuối nữa.

– Ngày mai, ngày mai chú sẽ mua tất cả những thứ đó cho cháu. – Đại úy ngồi xổm trước mặt cậu bé, nhìn cậu bằng ánh mắt dịu dàng. – Lẽ ra chú đã mua những thứấy cho cháu từ lâu rồi, nhưng bọn cướp có để lại cái gì đâu. – Đại úy thở dài, đứng dậy, hình như một ý nghĩ nào đó vừa lướt qua đầu: – Trời tối rồi, đến lúc cháu phải về.

– Chú sẽ mua ô tô cho cháu chứ? – Cậu bé vui hẳn lên, vội hít một hơi dài, cố nhìn vào mắt đại úy, nói tiếp: – Một chiếc xe ben to. Cha cháu đã mua cho cháu một chiếc như thếở cửa hàng bách hóa tổng hợp “Thế giới trẻ em”. Ở đấy có nhiều đồ chơi lắm, nhiều trẻ em lắm, cháu chơi với các bạn ấy, cả trò đánh trận giả nữa. Còn các chú không biết chơi, súng của các chú khét lắm, bẩn lắm, không giống như trong “Thế giới trẻ em”. Bây giờ “Thế giới trẻ em” đâu rồi?

Tôi thấy đại úy khổ sở nhăn mặt lại, cắn môi, bối rối nhìn sang bên.

– “Thế giới trẻ em” bây giờở đâu? – Cậu bé chạm khẽ vào chiếc áo khoác ngắn của đại úy, nhắc lại câu hỏi, và không đợi câu trả lời, cậu hướng ánh mắt như xét hỏi về phía tôi, nhìn thẳng vào mắt tôi: – Cả chú nữa, chú có biết “Thế giới trẻ em” ở đâu không?

Tôi ngớ người ra, đành phải nhìn sang bên, rồi sau đó, như tìm được đồng minh, tôi nhìn người sĩ quan, ánh mắt chúng tôi gặp nhau, và tôi không biết anh ta đọc được điều gì trong mắt tôi, nhưng trong mắt anh ta, tôi đọc được một nỗi buồn tê tái cùng với sự mệt mỏi.

Còn cậu bé không chờ được câu trả lời, với tính hồn nhiên của con trẻ, vẫn tiếp tục:

– Đấy, các chú chẳng biết gì cả. Tức là các chú không chăm học, còn bà Uchital biết hết. Bà bảo, “Thế giới trẻ em” ở chỗ cha mẹ cháu, chẳng bao lâu nữa tất cả sẽ quay về, cả quả bóng của cháu nữa, cũng quay về… Có thể đêm nay, nếu các chú không bắn nhau.

– Nhưng ngoài chúng ta ra, xung quanh vẫn cứ bắn, vẫn cứ ném bom. – Đại úy vung tay lên như có lỗi.

– Đúng. – Cậu bé gục đầu xuống, thở dài như người lớn, không nhìn chúng tôi nữa: – Khi nào thì cuộc chiến tranh của các chú mới kết thúc?

– Nhanh thôi, nhanh thôi. – Đại úy đặt tay lên đầu cậu bé nói, nhưng không quả quyết lắm.

Cậu bé lại nhìn vào mắt người sĩ quan, nói rất nhỏ:

– Các chú đã hứa lâu rồi… Thôi, cháu về đây. Bà Uchital có thể đã đi tìm cháu… Cháu sẽ lại bị mắng. – Bước được hai bước về phía cửa, cậu bé quay đầu lại, giọng rất dịu dàng: – Các chú sẽ mang đồ ăn cho nhà cháu chứ?

– Dĩ nhiên rồi, chú sẽ cho. Chú đã chuẩn bị sẵn cho cháu một gói đây.

– Cảm ơn chú. Bánh mì chỗ các chú ngon lắm… Bà Uchital sẽ mắng cháu, bà bảo, làm thế như người ăn xin, nhưng cả nhà vẫn ăn… Nhà cháu hết tiền từ lâu rồi.

Cậu bé đưa hai bàn tay bé xíu vội cầm gói đồ ăn, và không kìm nổi tò mò, ghé mắt nhìn vào bên trong:

– Ôi, có cả kem nữa!

– Không phải kem đâu, cháu ạ. – Người sĩ quan cũng nghiêng người xuống. – Mùa đông người ta không ăn kem… Đấy là bơ, bơđặc. Cháu thích bơđặc chứ?

– Ôi, cháu rất thích bơ! Ngon lắm! Phết lên bánh mì, ăn mãi không chán.

– Thôi, cháu về đi, muộn rồi. – Đại úy cương quyết. – Người của chú sẽ đưa cháu về.

– Không, không cần đâu. – Cậu bé mở to mắt. – Bà Uchital và dì Roza rất sợ binh lính. Họ sẽ mắng cháu.

– Vậy làm sao cháu mang gói đồ ăn về nhà được? Trời lại tối nữa.

Ngay lúc ấy, không chút do dự, cậu bé nói ngay:

– Chú này sẽ đưa cháu về.

– Chú ấy đang bị bắt giữ. – Giọng nam trầm theo kiểu quân lệnh của đại úy vang lên.

– Giữ chú ấy lại làm gì? – Cậu bé ngạc nhiên. – Chú ấy có vũ khí đâu.

– Đây là cuộc sống, là chiến tranh, cháu ạ. – Bằng một giọng răn dạy, đại úy thở dài nói. – Cháu hiểu không?

– Cháu không hiểu. – Ánh mắt cậu bé toát lên sự bối rối hay là một điều gì đó, nhưng vẫn nhìn thẳng vào mắt người sĩ quan. – Chính chú đã bảo, cuộc sống không phải là truyện cổ tích, nhưng truyện cổ tích là cuộc sống mà.

Đại úy gục đầu xuống, lúng túng lấy gói thuốc trong túi ra. Trong lúc đó, cậu bé bước lại gần, nắm lấy tay tôi:

– Xin các chú, hãy thả chú này ra. – Cậu bé tiếp tục van vỉ như lúc xin đồ ăn trước đó.

Đại úy chậm rãi hút thuốc, rít những hơi dài, đưa ánh mắt nặng nề quan sát khắp người tôi.

– Các chú đừng nghĩ xấu về chú ấy.

– Làm sao cháu biết chú đang nghĩ gì? – Đại úy rời mắt khỏi người tôi, lạnh lúng hỏi.

– Cháu biết. – Cậu bé bí ẩn thốt lên rồi chạm khẽ vào người tôi, nói tiếp: – Cho cháu và chú ấy về đi.

Việc gộp chung cả hai chú cháu lại đã tạo nên ấn tượng mạnh. Đại úy sững lại, liếc vội về phía chúng tôi và dừng lại nơi hai bàn tay của chúng tôi đang nắm vào nhau. Tôi nhìn chằm chặp vào người chỉ huy trạm kiểm soát liên hợp và kiên nhẫn chờ đợi, có cảm giác, hình như là một sự ghen tị kín đáo nào đó thoáng qua khuôn mặt anh.

– Thôi đi đi. – Đại úy khẽ thốt lên, mệt mỏi bước đến chỗ các tấm ván, nặng nề ngồi xuống và ném mẩu thuốc vào góc phòng.

Tôi vội lao đến chỗ quần áo của mình nằm lăn lóc trên phản, vội vàng cầm giấy chứng minh nhân dân trên bàn, còn chiếc mũ đắt tiền, đồng hồ và ví tiền đã biến mất. Tôi chần chờ giây lát, hy vọng sẽ gây được sự chú ý của đại úy, nhưng anh chỉ ngồi như hóa đá, mệt mỏi lấy bàn tay che khuôn mặt nghiêng nghiêng nhưđang phải chịu một cơn đau ghê gớm.

– Không sao đâu, chú ạ. – Cậu bé kéo tôi ra cửa. – Bù lại, họ đã cho chúng ta bao nhiêu đồ ăn. – Cậu bé cố giữ gói thực phẩm trên tay. – Thật tốt là chúng ta có bơ, ăn với bánh mì rất ngon. Nào đi thôi, bà Uchital ở nhà chắc đang lo lắm.

Tôi bám theo chân cậu bé thoát ra khỏi cái mê cung bằng bê tông cốt thép u ám. Bên ngoài là ánh đèn pha sáng lóa cùng với tiếng la hét của các quân nhân bên chiếc xe muộn màng. Tôi cố không nhìn những cảnh đó, chỉ đến khi đã bỏ lại dãy hàng rào dây thép gai ở đằng sau, tôi mới nhận ra, bầu trời đêm lạnh giá và lộng gió đang bám sau lưng tôi trong cái thành phố đổ nát kinh hoàng, nơi người ta bắn nhau loạn xạ, nơi bầu trời đêm liên tục bị xé toạc bởi những chiếc máy bay và trực thăng, và tất cả những điều đó hiện lên trên nền tiếng đại bác ì ùng đâu đây trong khắp thành phố.

– Ôi. – Đột nhiên giữa cơn ác mộng đó, vang lên giọng nói nhí nhảnh của người dẫn đường. – Lại gặp chuyện xấu rồi. – Cậu bé ngồi xuống, cố lắp cái đế giày đã bị bong ra. Tôi ngồi xuống giúp, nhưng trời thì tối và không hiểu sao tay tôi lại run bần bật, biết không thể làm gì hơn với cái mớ lép nhép ấy, tôi nhanh chóng quyết định theo hướng khác, liền bế cậu bé cùng với gói đồ ăn lên tay. – Nào, đi đâu? – Tôi lo lắng hỏi và nhận ra, mặc dù cậu bé trông có vẻ hơi gầy nhưng nặng, thậm chí khỏe mạnh nữa. Cậu bé ôm chặt cổ tôi và hăng hái ra lệnh:

– Hướng này! Về phía “Thế giới trẻ em”!

Vòng qua rất nhiều khe rãnh và hố bom đạn, vừa lo trượt ngã, tôi vừa cố chạy thật nhanh về hướng tòa nhà xám xịt, đổ nát. Còn cậu bé, có vẻ nhưđã yên vị trong vòng tay tôi, liền đưa tay lên vuốt tóc tôi:

– Dạo còn bé, cha cháu cũng bế cháu trên tay như thế này.

– Thế bây giờ cháu không còn bé nữa à? – Không hiểu sao, tôi lại buột ra.

– Tất nhiên là không. Thậm chí cháu đã vào trại.

– Trại gì?

– Ở trại đó, chúng cháu bị đánh, bị gọi là đồ Chechnya… Chú cũng là người Chechnya phải không?… Tại sao mọi người lại đánh chúng ta, bắn chúng ta?

Tôi không biết phải nói gì, phải trả lời ra sao, chỉ ôm chặt hơn cậu bé vào lòng và rảo bước, mắt nhìn xuống đất. Với sức lực kỳ lạ, cậu bé đưa tay ôm mặt tôi, nhìn thẳng vào mắt tôi, rồi hỏi bằng tiếng Chechnya, với một giọng nghiêm túc như người lớn:

– Chúng ta có còn là người Chechnya lâu nữa không chú?

Tôi gần như chết lặng đi, thậm chí hai cánh tay rũ ra. Tôi đặt cậu bé xuống đất, nhưng từ dưới đất, cậu bé vẫn nhìn tôi chằm chằm. Không biết cậu nhìn thấy gì trên khuôn mặt tôi trong bóng đêm, nhưng tôi vẫn cố trả lời bằng một giọng cương quyết:

– Chúng ta sinh ra là người Chechnya và suốt đời luôn là người Chechnya.

– Có nghĩa là chúng ta, cũng như những người khác sẽ không có “Thế giới trẻ em”?

– Tại sao lại không?! – Tôi cảm thấy bối rối, định nói một câu gì đó lạc quan, nhưng vừa lúc ấy, từ phía bên kia sông ngay trước mặt chúng tôi, tiếng đại bác lại bất ngờ gầm lên, chân tôi như khuỵu xuống, suýt ngã. Tôi bế thốc cậu bé lên, vội hỏi về cái điều thiết thân nhất lúc đó “Chạy đi đâu?”.

Ngay lúc đó, từ trạm kiểm soát liên hợp sau lưng chúng tôi, các loại vũ khí khác nhau đồng loạt nhả đạn không thương tiếc, tôi chẳng còn nghe được cậu bé nói gì nữa, cứ cắm đầu chạy dọc theo tòa nhà “Thế giới trẻ em” đổ nát. Đột nhiên, một bóng đen gầy gò từ đống đổ nát hiện ra, thấy chúng tôi, liền đứng nép vào tường trong giây lát rồi bỏ chạy.

– Bà Uchital! Bà ơi! – Cậu bé hét lên ngay bên tai tôi.

Bóng đen dừng lại, và ngay lúc ấy, từ bên kia sông tiếng đại bác lại gầm lên với một hỏa lực mạnh đến nỗi ánh sáng phản chiếu cả vào đôi mắt của bóng đen. Bóng đen nhào về phía tôi, và với một sức mạnh phi thường, giật lấy cậu bé trên tay tôi, rồi nhanh như tên bắn, biến mất vào cái cổng vòm cuốn tối om.

Quá thất vọng, tôi đứng như trời trồng, không biết phải đi đâu vì xung quanh đạn vãi loạn xạ như trong một bộ phim kinh dị, chỉ có những bông tuyết là vẫn hào phóng đáp xuống và gió thì vẫn giật từng cơn, càng làm cho hiện thực thêm rõ nét chứ không phải là ảo ảnh.

Không biết làm gì hơn, tôi bối rối nhìn về phía cái cổng vòm tối om, cố tìm xem ở đó có người và có chỗ trú ẩn hay không thì đột nhiên từ đó vọng lại một giọng nữ rất dịu dàng:

– Này anh kia, đứng đấy làm gì thế? Lại đây, nhanh lên!

Tôi gần như mù, chẳng nhìn thấy gì bên trong cổng vòm, nhưng vật đầu tiên tôi chạm vào là chính cậu bé.

– Chú ấy sẽ nghỉ lại đây với chúng ta. – Lại một lần nữa số phận của tôi được cậu bé quyết định. Tôi nhìn thấy ánh sáng lấp lóe ở bên kia cổng vòm, còn cậu bé nắm tay tôi, hỏi bằng giọng bí ẩn: – Chú sẽ kể chuyện cổ tích cho cháu nghe chứ?

– Cháu nghĩ mọi người đều thuộc truyện cổ tích của cháu à? – Người đàn bà dịu dàng lên tiếng, và qua giọng nói trong hơi thở gấp, tôi đoán bà đã có tuổi.

Ở đầu kia cổng vòm, người đàn bà giơ tay chặn chúng tôi lại, thận trọng quan sát, rồi vừa giơ tay ra hiệu vừa đi trước dẫn đường, ba người tay trong tay, tôi đi sau cùng.

Chúng tôi chui qua một cái cây lớn bị đổ, vòng qua hố bom và đến đứng trước một lối vào tối như bưng.

– Từ đây phải cẩn thận. – Người đàn bà quẹt diêm, lấp lóa đôi kính trắng. – Đi theo tôi. – Bà nói với tôi và giúp đứa bé bước qua hai bậc thang bị vỡ để lộ ra những thanh thép cong queo.

Leo hết cầu thang khá dốc, chúng tôi lên tầng hai. Tôi nhận ngay ra bên dưới chỗ chúng tôi đứng từng là cửa hàng bách hóa tổng hợp “Thế giới trẻ em”, còn tiếp đó là khu chung cư.

– Dì Roza đi làm về chưa bà? – Cậu bé lo lắng hỏi lúc bà già loay hoay với ổ khóa cửa.

– Về rồi. – Khi đã vào phòng, bà già mới thở phào nói, rồi dịu giọng, như là xin lỗi: – Cả hai chúng ta phải nán lại chỗ làm việc, cứ nghĩ là họ trả lương, định mua giày và quần áo cho cháu luôn.

Bà già va phải cái gì đó trong bóng tối, rên khe khẽ, quẹt que diêm, rồi que thứ hai, châm chiếc đèn dầu, xung quanh lập tức sáng hẳn lên, dễ chịu hơn một chút.

– Anh vào đây, đừng cởi áo bành tô ra vội, chờ nhóm lò đã. – Bà nói với tôi rồi ngay lập tức quay ra chăm sóc cậu bé, đặt nó ngồi lên chiếc đi văng to kiểu cũ.

– Xem này, ướt hết rồi. – Bà lo lắng hà hơi vào đôi bàn chân nhỏ xíu của cậu bé, dịu dàng xoa xoa bằng đôi tay gầy guộc, nhăn nheo của mình. – Bà đã dặn rồi, không được ra khỏi nhà, thế mà cháu thậm chí cũng không đóng cửa nữa. – Bà vẫn tiếp tục, nhưng giọng nói không có vẻ gì là nghiêm khắc.

– Vâng, cháu không đóng cửa. – Cậu bé xác nhận, không có ý phân bua. – Nhưng làm sao đóng được? Chú Baga đến đây, mang cả súng theo nữa. Cháu chơi đàn cho chúấy nghe. Rồi đúng lúc ấy, chú Gorova lại gõ cửa.

– Chú đại úy à? – Bà già thốt lên. – Thật khủng khiếp!

– Vâng ạ! – Cậu bé rướn người về phía trước, nhìn vào mắt người đàn bà. – Cháu biết, các chú có râu mang súng đó đang chơi trò chiến tranh với nhau, còn chúng ta là dân thường bị vạ lây. Có thể cháu đã biến thành quả bóng bay lên trời. Không có cháu, bà sẽ làm gì?

– Lạy Chúa tôi, lạy Chúa tôi! Cháu nói gì thế! – Bà già ôm chặt cậu bé vào lòng, vừa hôn vừa ứa nước mắt, rồi đột nhiên như bừng tỉnh, bà hỏi như với một người lớn: – Rồi hai người thế nào?

– Cháu… cháu, – Cậu bé hít một hơi dài, mắt sáng lên: – cháu làm như trong truyện cổ tích, như bàđã dạy ấy, phải khôn khéo chứ.

– Cháu làm thế nào? – Bà lão ngạc nhiên.

– Nghe tiếng gõ cửa, cháu im lặng. Chú Gorova gọi tên cháu. Chú Baga liền trốn vào nhà tắm. Cháu ra mở cửa, bảo, cháu sẽ đến chỗ các chú xem phim hoạt hình. Chú ấy hỏi, sao mấy hôm nay không đến, bà không cho đi à? Cháu đáp, không phải, vì giày của cháu hỏng rồi. Trong khi chú ấy còn đang nghĩ ngợi, cháu nói thêm, nhưng cháu sẽ đi với chú, các chú có thuộc truyện cổ tích và có bơ không? Chúấy bảo, cái gì cũng có, có hết. Chú ấy đang vội, chú chỉ dặn, nhớ khóa cửa lại. Cháu nói thật to, cốt để chú Baga nghe thấy, cháu không khóa cửa đâu, vì bà Uchital và dì Loza không có chìa khóa.

– Ôi, cục cưng của bà, thông minh lắm. – Bà lão lại ôm lấy cậu bé và hôn như một người mẹ. – Chỉ có điều, cháu phải phát âm cho đúng như bàđã dạy. Dì Roza chứ không phải Loza, phải phân biệt được R với L chứ.

– Ở đấy không có dì Loza, chỉ có xe tăng thôi. – Cậu bé nói bằng giọng nghiêm nghị như kéo mọi người trở về với thực tại.

– Ôi, lạy Chúa tôi! – Bà đứng lên. – Sao Roza vẫn chưa về nhỉ?

– Dì ấy đến chỗ các phiến quân à?

– Ờ, phải… Không thấy cháu ở nhà, chúng ta đổ đi tìm. Ta chạy đến chỗ những người Nga của ta ở trạm kiểm soát, còn dì ấy, chắc là chạy đến chỗ những người Chechnya của mình… – Rồi bằng ánh mắt dò xét, lần đầu tiên bà nhìn về phía tôi: – Nhờ anh trông hộ thằng bé một lát.

Bất chấp dáng vẻ già nua của mình, người đàn bà nhanh nhẹn bước về phía cửa, nhưng khi bà vừa ra đến cửa, cậu bé bỗng hét theo:

– Bà ơi, đừng đi nữa… rồi hai người lại mất công đi tìm nhau. Dì sẽ về thôi.

Bà già ngạc nhiên nhìn cậu bé rồi chậm chạp quay vào, ngồi xuống cạnh lò sưởi. Vừa lúc ấy có tiếng loạt soạt, rồi tiếng bước chân vang lên bên ngoài, và một người phụ nữ vóc dáng cao ráo, khỏe mạnh, săn chắc, nước da ngăm ngăm, tuổi chừng ba mươi xuất hiện.

– Ôi, lạy Thánh, cháu đã về rồi! – Người phụ nữ chạy lại chỗ cậu bé, nhưng khi nhìn thấy tôi bỗng bối rối, cố nén tình cảm của mình lại, chỉ khẽ ôm hôn và thầm thì bằng tiếng Chechnya: – Cho dì xin lỗi, chúng ta sẽ không bao giờ để cháu ở nhà một mình nữa… Nhìn này, bà và dì mang quà về cho cháu đây. – Người phụ nữ lấy từ trong túi ra vài viên kẹo.

– Chú Gorova cho cháu bao nhiêu đồ ăn. – Với sự có mặt của hai người đàn bà, cậu bé vui hẳn lên, thậm chí giọng nói cũng có vẻ nhõng nhẽo hơn. – Có cả bơđặc nữa!

– Cháu đúng là cứu tinh của chúng ta! Cục vàng của chúng ta! – Hai người đàn bà xúm lại bên cậu bé.

Sau đó bắt đầu cảnh tất bật của cuộc sống thường nhật. Người đàn bà cao tuổi lại ngồi bên lò sưởi, Roza cầm chiếc rìu nhỏ định ra ngoài lấy củi.

– Tôi đi được không? – Suốt từ nãy đến giờ, lần đầu tiên tôi lên tiếng.

– Không, không, anh là người lạ, không làm được đâu. – Cả hai người đàn bà cùng bật lên, chặn ngay cơn bột phát của tôi lại.

Củi ướt, cháy rất chậm, tỏa khói mù mịt, xì nước xèo xèo và nổ lách tách, hòa cùng với tiếng nước sôi yếu ớt của ấm nước. Theo như lời cậu bé thì bữa chiều sẽ rất thịnh soạn, nói gì thì nói, cũng có quà của viên đại úy, lại có một vị khách là tôi, nên có bao nhiêu thực phẩm dự trữ đều được dọn hết lên chiếc bàn méo mó – bánh mỳ, mỡ, bơđặc, hành, món tráng miệng thì có trà và kẹo. Trong và sau bữa ăn, rồi khi cậu bé được tắm rửa, thay quần áo và đặt lên giường, tôi luôn có cảm giác (nếu không tính đến sự u ám và nghèo nàn của căn hộ), những người đàn bà giống như các nữ nô tì đang hầu hạ một vị hoàng tử hay là kẻ nối dõi tông đường của một đấng thần linh nào đó.

– Sao chú không ngủ đi? – Cuộn trong chiếc chăn len duy nhất, cậu bé hỏi.

Giờ là đến cái thời điểm tế nhị nhất – ngủở đâu?

– Chú ngủ trên đi văng, còn bà và dì ngủ với cháu… Nhanh lên, trong lúc còn yên tĩnh có thể kể chuyện cổ tích cho cháu nghe. – Cậu bé sắp xếp, và chúng tôi làm đúng như vậy. Tôi khoanh tròn trong chiếc áo bành tô của mình, chạm mũi vào lớp da sờn cũ kỹ của chiếc đi văng, hít đủ thứ mùi không chỉ của một số phận con người. Hai người đàn bà vẫn còn loay hoay một lát với công việc nội trợ, rồi tắt đèn dầu, cho thêm củi vào lò sưởi, và căn cứ vào tiếng cọt kẹt của chiếc giường, tôi biết họ cũng đã đi nằm.

– Ôi, ấm quá… yên tĩnh quá! – Cậu bé là người đầu tiên phá vỡ sự im lặng.

– Có thể hôm nay người ta không bắn nhau nữa. – Giọng của người bà.

– Chắc là đang ăn tối, uống vodka, – Roza lên tiếng. – rồi sau đó lại như mọi ngày.

– Đã đến lúc phải dừng lại thôi. – Bà già nói. – Còn bắn nhau đến bao giờ nữa? Mà họ lấy đâu ra lắm súng đạn thế nhỉ?!

– Trong lúc còn yên tĩnh, mọi người kể chuyện cổ tích đi. – Giọng trầm yếu ớt của cậu bé. – Đêm nay, khi cháu ngủ, cha mẹ cháu sẽ bay về với cháu… Ai kể trước nào?

– Roza, dì kể đi. – Bà già đề nghị.

– Không, tốt hơn là bà.

– Hay chú kể đi? – Cậu bé hào hứng.

– Không, không. – Bà già vội cứu nguy cho tôi. – Chú ấy không biết câu chuyện cổ tích của chúng ta đâu, mà chắc là ngủ rồi.

– Ngủ mà không có truyện cổ tích thì không được. – Cậu bé quyết định. – Thôi, để cháu bắt đầu.

Hít một hơi thật sâu, cậu bé bắt đầu kể, giọng khác hẳn, trong âm điệu có một sức hấp dẫn nào đó.

– Cháu nhảy cóc rồi. – Đột nhiên bà lão cắt ngang.

– Phải. – Dì Roza thừa nhận.

– Tại vì hôm nay cháu và chú Baga, chú Gorova gặp đủ chuyện.

– Thế có chuyện gì? – Bà lão phân vân.

– Ồ, giữa họ lúc nào chẳng có chuyện rắc rối. – Roza nói, vẻ không hài lòng.

– Phải, truyện cổ tích của họ chán lắn. – Cậu bé tiếp tục. – Mà cuộc sống của họ cũng chẳng hơn gì, dù họ có bơđặc.

– Bà đã bảo rồi, đừng tiếp xúc với họ. Nhưng họ đến gặp cháu làm gì?!

– Chúng ta sẽ không để cháu ở nhà một mình nữa… Nếu cần, chúng ta sẽ mang cháu đi theo.

– Mang theo làm gì ạ? – Cậu bé ngạc nhiên. – Nhỡ cha mẹ cháu đến thì sao? Họ bảo cháu chờở đây mà.

Một sự im lặng nặng nề bao trùm, mãi sau mới vang lên giọng nói buồn rầu của người bà:

– Roza, dì kể tiếp đi.

Một khoảng im lặng nữa trôi qua trước khi Roza bắt đầu kể bằng một giọng mệt mỏi, uể oải đến mức cậu bé không chịu nổi phải cắt ngang, rồi tự mình kể tiếp. Sau đó, mọi người đều tham gia vào câu chuyện, cứ như là trong một cuộc tranh luận, họ đặt ra nhiều giả thiết khác nhau, mỗi lúc một sôi nổi, ban đầu còn thì thào, sau đó thì la lên.

Tôi nghe mà chẳng hiểu, chẳng nhớ gì cả. Tôi có cảm giác, có thể vì quá sợ hãi chiến tranh nên tất cả bọn họ đều trở nên lẩm cẩm chăng? Ý nghĩ ấy càng lúc càng choáng ngợp tâm trí, khiến tôi cảm thấy lo sợ trong suốt cuộc tranh cãi lê thê cho đến khi mọi người đều đồng ý với cốt truyện do người bà nghĩ ra. Đến lúc đó tôi mới hiểu được đôi nét cơ bản của câu chuyện, hiểu ra vai diễn và tên của một số nhân vật, và cũng bị cuốn vào câu chuyện cổ tích ấy một cách vô thức. Tôi cũng nín thở, chăm chú lắng nghe, mỗi khi bà Uchital dừng lại, tôi cũng suýt bật ra: “Rồi sao nữa?”, nhưng Roza đã qua mặt tôi bằng một giọng thì thầm:

– Nó ngủ rồi.

Tôi nghe thấy tiếng cọt kẹt của chiếc giường.

– Dịch ra một chút, nó sẽ dễ chịu hơn. – Tiếng trở mình của hai người.

Sau đó không ai nói gì nữa, nhưng qua hơi thở của họ, tôi có cảm giác cả hai đều không ngủ, và nhưđoán được ý nghĩ của tôi, Roza nói:

– Chúng ta dẫn câu chuyện như vậy có đúng không? Liệu nó có hiểu không?

– Không phải lúc nào trẻ em cũng hiểu chúng ta, mà làm sao hiểu nổi sự tàn nhẫn của con người. Hơn nữa, thằng bé đã chứng kiến bao chuyện…

– Đúng thế. – Tiếng thở dài. – Nó không phải là đứa bé bình thường.

– Phải, không bình thường… nhưng chưa chắc nó đã hiểu được.

Sau đó cả hai im lặng khá lâu, rồi Roza lại lên tiếng trước:

– Bà này, liệu ngày mai người ta có trả lương cho chúng ta không?

– Không trả, chúng ta lại đi vay mượn. Nhưng… phải mua giày cho nó, rồi kiếm cây thông Năm mới nữa, mình đã hứa rồi.

Sau đó họ không nói thêm gì nữa, tôi không biết họ đã ngủ hay chưa. Bản thân tôi, mệt bã người nhưng cũng không ngủ được. Hình nhưđã khuya lắm rồi, lại yên ắng nữa, ở Moskva, chín mười giờ đêm mới là lúc cuộc sống diễn ra sôi động nhất.

Hình như tôi còn trằn trọc khoảng một tiếng nữa, không dám cựa quậy. Cuối cùng khi tôi bắt đầu thiếp đi thì đột nhiên ở ngay bên dưới, chỗ lối vào tòa nhà, vang lên một tiếng động, không hẳn là một phát súng mà như tiếng súng đồ chơi trẻ em, hay là từ một khẩu súng ngắn cổ lỗ sĩ. Không ai đáp lại, mà cũng chẳng có ai hỗ trợ cho “cái thùng rỗng” ấy. Nhưng khoảng năm, mười phút sau bỗng vang lên ba tiếng nổ nữa và ngay sau đó là một tiếng la kiểu lính tráng, giọng của người sùng đạo.

Lần này, sự khiêu khích liền bị đáp trả không chút nương tay, với toàn bộ hỏa lực từ kho vũ khí ở trạm kiểm soát liên hợp.

– Lại bắn nhau. – Tiếng cậu bé, vẻ không hài lòng. – Rồi chẳng có ai bay về với cháu nữa.

– Ngủ đi, ngủ đi cháu, mọi việc sẽổn thôi. Họ không bắn về phía chúng ta đâu. – Giọng già nua, yếu ớt.

Một lát sau, cuộc bắn nhau dừng lại, nhưng không lâu.

Bên dưới cửa sổ lại vang lên tiếng la hét, rồi lại một phát đạn từ khẩu súng cổ lỗ sĩ và sự đáp trả đinh tai nhức óc. Cuộc bắn nhau kéo dài cho đến khi những loạt đại bác gầm lên, át đi tất cả, cứ như là có hai đội quân vĩ đại đang sống mái với nhau dưới vòm trời Grozny vậy.

– Như mọi ngày, đúng mười một giờ. – Tôi nghe thấy tiếng bà Uchital.

– Xong rồi. – Roza thừa nhận. – Không thể im được cho đến trước nửa đêm.

– Miễn là không bắn nhau ở trung tâm thành phố.

– Họ không đến đây đâu, trạm kiểm soát ngay bên cạnh mà.

– Ít ra nó cũng có tác dụng… Thôi, ngủ đi, ngủ đi, cháu ạ. Mọi việc rồi sẽ tốt đẹp, ngủ đi. – Tiếng chép miệng khe khẽ.

Tôi có cảm giác, trước những tiếng nổ, lúc thì ầm ĩ, lúc thì thưa thớt, trước sự rung động của tất cả các bức tường và những tấm vải sơn trên cửa sổ, tôi không chỉ không ngủ nổi mà có thể sẽ phát điên lên, bật dậy, chạy lung tung, tốt nhất là chui xuống tầng hầm, để không phải nghe thấy gì cả, và điều quan trọng nhất là không một viên đạn nào, không một quả bom nào có thể tìm thấy tôi.

Tôi là khách, lại là đàn ông nữa, vậy mà quai hàm tê cứng, cả người co rúm lại như cuộn len, trái tim hoảng sợ đập thình thịch, còn to hơn cả tiếng đại bác. Nhưng cuộc sống vốn nghiệt ngã, và dẫu thực tại có ảm đạm đến đâu, thì cơ thể con người vẫn đòi hỏi những gì thuộc về nó, tôi không nhớ việc ấy diễn ra như thế nào, nhưng cuối cùng tôi cũng thiếp đi… và tôi đã nhìn thấy gì?! Quả bóng bay! Phải, một quả bóng to, đẹp, màu đỏ tươi, bay vào bầu trời xanh thăm thẳm, rực rỡ hào quang, cố thoát khỏi nỗi hoảng sợ của người đời. Nhưng từ mặt đất, người ta lại bắn vào nó, không chỉ bằng đại bác và súng máy, mà cả cung tên và ném đá nữa.

– Thật vậy sao?! Chẳng lẽ họ sẽ bắn trúng?! – Tim tôi như thắt lại, không thể chịu nổi… Lỡ họ bắn trúng! Một tiếng nổ khủng khiếp vang lên, hất tôi văng ra khỏi đi văng, bên tay tôi là cậu bé vẫn còn đang mê ngủ, toàn thân run lẩy bẩy, cả tôi cũng run, tim đập thình thịch trong nỗi kinh hoàng mà tôi chẳng hiểu gì cả.

Ngay lúc ấy, ngọn đèn dầu được thắp lên và tôi nhận ra mình đang ở đâu. Hai người đàn bà đỡ cậu bé ra khỏi tay tôi rồi đặt lên giường, còn tôi vẫn ngồi trên sàn nhà lát ván lạnh ngắt.

– Anh có đau không? – Bà Uchital cúi xuống hỏi. – Mặt anh trắng bệch, trán vã mồ hôi.

– Không, tôi không sao cả. – Tôi cố ngồi lên đi văng, nhưng đúng lúc ấy, một tiếng nổ khủng khiếp nữa lại vang lên ngay trong tòa nhà, hất tôi văng ra, sàn nhà rung lên, bụi bay mù mịt, vữa rơi lả tả.

Tôi không nhớ mình nằm dưới sàn bao lâu để chờ tiếng nổ tiếp theo. Sau đó tôi thận trọng ngồi dậy, ngọn đèn dầu bị sóng âm thanh thổi tắt, chỉ còn lại những hòn than leo lét trong lò sưởi, một nỗi đau tràn ngập bóng đêm nhập nhoạng, kinh hoàng. Bà Uchital ngồi trên giường ôm chặt cậu bé vào lòng, cố che nó từ hướng cửa sổ, Roza cúi xuống bên họ.

– Có thể tốt hơn là chúng ta xuống tầng hầm, vào chỗ trú ẩn. – Tôi thốt lên.

– Những người lính râu ria của chúng tôi[6] đang trú dưới tầng hầm. – Giọng Roza như vỡ ra.

– Hơn nữa thằng bé không chịu rời khỏi đây đâu. – Bà Uchital xác nhận bằng một giọng khàn khàn.

Chúng tôi im lặng chờ tiếng nổ tiếp theo, và cũng không lâu. Cậu bé ngọ nguậy trong tay bà Uchital, bực bội nói:

– Hình như hôm nay họ điên lên rồi bà ạ!

– Im lặng! Chịu khó ngồi một lát nữa! – Bà Uchital thì thầm, cứ như là họ sẽ phát hiện ra chúng tôi qua tiếng động. – Nhưng sao cháu lại nói vậy? Không được.

– Nhưng ném bom lại được hả bà? – Cậu bé tự ái nói, lát sau rầu rĩ tiếp: – Bà ơi, cháu tè rồi… lại còn…

– Ờ, bà biết rồi. – Giọng bà lão rất dịu dàng. – Không sao, không sao… ngay bây giờ… Roza, dì châm đèn lên đi, mang nước nóng lại đây.

Có thể thấy rõ, đây không phải lần đầu cái liệu pháp này được áp dụng. Cậu bé nhanh chóng được lau rửa và thay quần áo. Cứ nghĩ là sẽ không còn bắn nhau nữa nên chúng tôi nằm xuống, nhưng trước khi chợp mắt, tiếng đại bác lại gầm lên, lần này nghe có vẻ xa hơn và cũng yếu hơn. Dẫu vậy, tim tôi vẫn hoảng sợ đập thình thịch. Vừa lúc ấy, tôi nghe tiếng động lạ, hóa ra cậu bé đã đến nằm bên tôi và ôm chặt lấy tôi, ánh mắt lóe lên trong bóng tối nhờ nhờ, chiếu thẳng vào mắt tôi, rồi đột nhiên:

– Chú vừa nhìn thấy quả bóng, đúng không? Nó thế nào?

Tôi có cảm giác hai chân như bị chuột rút, toàn thân hóa đá, không biết phải trả lời ra sao. Nhưng hai người đàn bà đã cứu tôi, họ vội bế cậu bé đặt lên giường, thay nhau nói với nó cái gì đó, chắc là kể câu chuyện cổ tích của mình. Tuy nhiên, tôi không thể nghe và cũng không muốn nghe gì nữa, tôi đã quá mệt mỏi, hai mắt díp lại, nhưng tôi sợ, sợ mình thiếp đi, lại nhìn thấy quả bóng bay. Nhưng rồi cuối cùng tôi cũng thiếp đi, và tôi lại bay đi đâu đó, chao lượn bên những bức tranh và những ảo ảnh, vừa sợ hãi, vừa thích thú. Nói chung, tôi như bị ám ảnh về những gì vừa xảy ra, nhưđang sống trong câu chuyện cổ tích, với rất nhiều, rất nhiều quả bóng bay màu đỏ tươi, rực rỡ, trên bầu trời bao la, xanh thẳm, không một gợn mây, tôi như tan ra giữa chúng, nhẹ nhàng, thanh thoát, trong tiếng nhạc kỳ lạ nào đó, réo rắt như tiếng nước suối chảy, và thật kỳ lạ, dường như tiếng nhạc rời rạc đó rất hài hòa với cảm giác phiêu diêu trên chín tầng mây của tôi…

– Rẹt-ẹt-ẹt! – Một tràng súng máy khô khốc vang lên. Tôi bật dậy. Trời đã sáng, tiếng nước sôi trong ấm, và cậu bé đứng ngay trước mặt tôi với cây đàn violon trên tay, mái tóc vàng bồng bềnh, dáng vẻ khôi ngô, đang nhìn thẳng vào mắt tôi. Cậu bé há miệng ra, định hỏi gì đó, nhưng tôi không nén nổi, liền hỏi trước:

– Quả bóng bay của cháu màu đỏ?

Cậu bé gật đầu, nhìn sang bên, có vẻ nghi ngại:

– Chú không nhìn thấy cha mẹ cháu ở trên đó, đúng không?

Một dòng điện như xuyên qua người tôi, đến tận gót chân.

– Làm sao cháu biết chú nhìn thấy gì? – Tôi buột ra.

– Lại đây. – Bà Uchital cầm lấy cây vĩ cầm rồi đưa cậu bé đi. – Nào, chúng ta uống trà thôi. – Thấy tôi có vẻ ngơ ngác, bà tiếp: – Thằng bé lạ lắm, cứ như không phải người của thế giới này…

Mọi người cương quyết không cho tôi đi nếu không dùng trà với họ. Ngồi bên chiếc bàn sứt sẹo, tôi làm nhưđang quan sát căn phòng để cố tránh ánh mắt của cậu bé.

– Chú thấy tội nghiệp gia đình cháu phải không? – Lại một lần nữa cậu bé làm tôi sửng sốt vì câu hỏi của mình, giọng nói toát lên sự trách móc, rõ đến mức tôi không biết phải trả lời thế nào, còn cậu, vẫn nói tiếp bằng một giọng như thế: – Không sao đâu chú ạ, cuộc sống không phải là truyện cổ tích, đúng không bà? Mà truyện cổ tích bao giờ cũng có hậu.

Cậu bé ngồi trên đùi bà, đột nhiên quay đầu, nhìn vào cặp mắt mờ đục của bà sau cặp kính, hỏi:

– Kết thúc sẽ có hậu, phải không bà? Mọi việc đã kết thúc rồi mà?!

– Uống đi, uống đi, cháu… trà nguội hết rồi.

Tất cả chúng tôi đều nhìn xuống.

Tôi nhanh chóng uống cạn ly trà, lắp bắp nói câu cảm ơn rồi chia tay với mọi người, hứa sẽ sớm quay lại.

– Chú không biết truyện cổ tích, tức là chúng ta sẽ không còn gặp nhau nữa. – Không hiểu sao lúc chia tay, cậu bé lại khẳng định như vậy.

Tôi đi ra cùng với Roza. Theo đường mòn, băng qua các khoảng sân, Roza đưa tôi đến chiếc taxi cũ kỹ.

– Anh ấy là người quen. – Roza chỉ vào người lái xe. – Đáng tin cậy và thuộc đường.

Quả thật, sau khi vòng tránh tất cả các trạm kiểm soát liên hợp, chúng tôi ra đến ngoại ô thành phố. Khi cảm thấy có vẻ dễ chịu hơn, người lái xe – trạc tuổi tôi, tên là Paizul, bỗng hỏi:

– Roza là bà con của anh à?

Trong khi tôi còn đang cố giải thích, thì anh tiếp:

– Anh có nhìn thấy cậu bé không? Có nghe cậu ấy chơi đàn không? Tiếc thật… một cậu bé tài năng như thế!

– Có. – Tôi không biết nói gì hơn, và chỉ đến lúc nghe tiếng cát lạo xạo trong miệng cùng với mùi thuốc súng nồng nặc, tôi mới cảm nhận được đầy đủ mùi vị, sự tàn bạo và nỗi kinh hoàng của chiến tranh…

… Người ta không cho chúng tôi vào làng. Xung quanh đều bị phong tỏa, chỗ nào cũng thấy xe tăng, lính tráng, máy bay quần đảo trên trời, đâu đó vẫn còn bắn nhau – để “dọn dẹp”. Tuy nhiên, Paizul là một chàng trai tháo vát nên chúng tôi cũng qua được. Ở nhà, mọi người như phát điên lên vì tôi, nghĩ là tôi tiêu rồi.

Chiều theo sự nài nỉ của cha mẹ, ngay ngày hôm sau, bằng những con đường lắt léo, tôi đành phải chia tay với Chechnya vẫn còn đang đánh nhau để bay về Moskva, về với gia đình mình ngay trước thềm Năm mới. Và tôi cũng còn một khoản nợ ngân hàng phải thanh toán trước Năm mới.

Có thể thấy, chiến tranh đã làm cho tôi trở nên hung dữ, tôi hành động một cách cứng rắn, quyết liệt. Tóm lại, những khó khăn về mặt tài chính của tôi cũng từng bước được giải quyết. Và thật lòng mà nói, vào dịp Năm mới, những ngày đầu tiên của tháng Giêng năm 1996, tôi đã quyết định quay về Grozny: Cậu bé nhưđang vẫy gọi tôi, rất mãnh liệt, và quả bóng bay, chính là quả bóng màu đỏấy cũng vẫy gọi tôi, cứ mỗi đêm mất ngủ chúng lại hiện lên trước mắt… Tôi đã mua vé và chuẩn bị bay thì nhận được một cú điện thoại từ Grozny: Một người bà con rất gần bị thương, mảnh đạn găm đầy mình, cần phải đưa lên Moskva phẫu thuật gấp.

Lúc ấy và ngay cả bây giờ, tôi có thể biện minh thế nào cũng được, nhưng tất cả cũng chỉ vì tôi thiếu cương quyết, và trong khi tôi còn đang chuẩn bị về Grozny một lần nữa thì mùa đông đã trôi qua. Còn mùa xuân thì lực lượng phiến quân lại đổ về thành phố, nói cho chính xác thì lúc nào họ cũng ở đó, nhưng trước đấy thì dường như hai bên tham chiến đều chấp nhận giải pháp chung sống hòa bình, còn bây giờ, các trận đánh lại bùng lên với quy mô lớn hơn ngay giữa trung tâm thành phố, và tôi không dám chui đầu vào đó, tôi sợ, những ngày ấy, tôi chỉ xem tivi, hy vọng sẽ nhìn thấy tòa nhà “Thế giới trẻ em” trên màn hình.

Tòa nhà không được lên tivi, hình như mọi việc đã ổn, tôi không về Grozny nữa. Quả thật, tôi còn nhiều việc phải làm – chuẩn bị bảo vệ luận án. Rồi mùa hè đến, rồi tháng Tám, phiến quân lại đổ về thành phố, chiến tranh lại bùng lên… Cuối cùng mọi chuyện cũng phải đến hồi kết. Các bên ký kết Hiệp ước hữu nghị[7]. Quân đội Nga rút về, dường như Chechnya đã có hòa bình, tự do.

Đúng vào dịp ấy, khoảng tháng Mười, tôi bảo vệ thành công luận án, sau hai tuần chờ hoàn tất thủ tục, cuối cùng, vào những ngày thu muộn, tôi cũng về đến thành phố Grozny hoàn toàn giải phóng…

Nhưng, than ôi! Thật khủng khiếp! Tôi chẳng còn nhìn thấy gì cả. “Thế giới trẻ em” không còn nữa, các trạm kiểm soát liên hợp cũng không còn, những cây cầu cũng không còn, chẳng còn lại gì, chỉ còn một bãi sa mạc. Có cảm giác như nơi đây chưa từng có những tòa nhà đồ sộ, chưa từng có thành phố, chưa từng có con người…

Không tìm được niềm an ủi nơi mặt đất, tôi nhìn lên bầu trời, biết đâu quả bóng bay sẽ xuất hiện. Nhưng bầu trời thấp lè tè, u ám và lạnh lẽo – trời cũng sắp sang đông rồi.

Tôi cố an ủi mình bằng những ảo giác, rằng bà Uchital, Roza và cậu bé, chắc đã rời khỏi tòa nhà “Thế giới trẻ em” trước khi nó bị san bằng. Và đúng là tôi đã cố đi tìm họ. Thời gian trôi vùn vụt, tôi hiểu ra rằng, tôi không bao giờ còn được gặp cậu bé ấy nữa… Nhưng hóa ra là tôi chưa bao giờ chia tay với cậu, đôi mắt của cậu như hai vì sao nhỏ lấp lánh, lúc nào cũng như hiện lên trước mặt tôi. Tôi muốn, rất muốn cậu bé không phải chia tay với các bạn, mà sẽ luôn ở bên chúng ta. Mãi mãi!

… Liệu tôi có thể làm được điều đó? Tôi không biết. Nhưng tâm hồn tôi đau nhói, và tôi, như Thượng đế đã cho phép, sẽ cố gắng đưa câu chuyện cổ tích này đến với các bạn như chính bản thân cuộc sống, hay là, kỳ lạ thay, cuộc sống chẳng khác gì câu chuyện cổ tích…

 

[1] Grozny: Thủ đô nước Cộng hòa Tự trị Chechnya trong Liên bang Nga. Tiếng Nga có nghĩa là hung dữ, khủng khiếp.

[2] Cuộc chiến Chechnya lần thứ nhất: Cuộc xung đột nổ ra khi Cộng hòa Tự trị Chechnya đòi ly khai ra khỏi Liên bang Nga, từ tháng 12 năm1994 đến tháng 8 năm1996.

[3] Lực lượng vũ trang theo phong trào ly khai ở Chechnya.

[4] Lực lượng Cảnh sát đặc nhiệm Moskva.

[5] Tên đầy đủ của Kuzma.

[6] Ám chỉ các phiến quân ly khai Chechnya.

[7] Năm 1996, Tổng thống Nga Boris Yeltsin tuyên bố thỏa thuận ngừng bắn, sang năm 1997 Hiệp ước hòa bình giữa Liên bang Nga và Cộng hòa Tự trị Chechnya được ký kết.

 Thông tin sách: 

Tác giả: Kanta Ibragimov

Người dịch: Đào Minh Hiệp

NXB liên kết: NXB Văn Học

Số trang: 532

Khổ sách: 14.5×20.5cm

Giá bìa: 102.000 đồng

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s