Thế Giới Trẻ Em – Chương 2

Không ai biết chính xác tuổi của cậu bé chứ chưa nói đến ngày sinh. Nhưng cũng chẳng sao, điều tệ hại hơn là chính nó và không một người nào khác biết tên họ thật của nó. Thật ra thì nó cũng đã vào “trại”, tại đây nó được đặt tên mới, nhưng cái tên đó chẳng ăn nhập gì và như vẫn thường thấy trong các trường công, bọn trẻ hay gọi nhau theo biệt danh. Khi người ta hỏi: “Cháu tên gì?”, nó đáp bằng tiếng Chechnya “Kant[1]”. Đứng cạnh nó là một cô bé đồng hương lớn tuổi hơn, liền dịch sang tiếng Nga là: Cậu bé. Vậy là nó mang tên Cậu bé.

Nếu bảo rằng Cậu bé không có tuổi thơ thì không hoàn toàn chính xác. Vấn đề là ở chỗ, thời gian đầu cậu có một tuổi thơ hạnh phúc và no ấm.

Cha cậu, một cảnh sát trẻ, là một người miền núi rất yêu con. Vào thời kỳ đầu của cuộc chiến, lương của những người làm công tác bảo vệ luật pháp ngày càng ít đi, song anh vẫn tìm mọi cách để đảm bảo cuộc sống gia đình. Anh có thể làm bất cứ việc gì trong khả năng của mình cho cậu con trai duy nhất, toàn bộ thời gian rảnh rỗi anh đều dành cho cậu, cứ như anh đã biết trước, mình không còn nhiều thời gian nữa.

Vào cuối năm 1994, cuộc chiến ở Chechnya bước vào thời kỳ ác liệt nhất. Nhiều người biết lo xa đã tìm cách chạy khỏi thành phố Grozny. Cha của Cậu bé, mặc dù chỉ là chuẩn úy chứ chưa phải là sĩ quan, vẫn phải tuân theo mệnh lệnh của người chỉ huy đã bỏ chạy để đảm nhiệm công việc trưởng công an quận ở thủ đô nước cộng hòa.

Rõ ràng anh là một người có trách nhiệm và can đảm. Ít ra thì anh cũng tận tụy phục vụ với hết khả năng của mình cho đến khi trụ sở công an quận bị trúng mấy quả rocket, anh mới chịu rời bỏ cương vị của mình sau khi đã thu dọn hết tài liệu quan trọng và can đảm mang về nhà.

Tuy nhiên, chẳng bao lâu sau, ngay giữa trung tâm thành phố Grozny, cách tòa nhà dinh tổng thống hai bước chân đã nổ ra trận đánh ác liệt nhất. Chỉ đến tận lúc ấy, cha của Cậu bé mới hiểu ra rằng, lực lượng quân đội Nga tiến vào Chechnya không phải để lập lại trật tự theo hiến pháp mà là để kéo dài cuộc chiến. Giờ đây anh chỉ còn một nghĩa vụ: Cứu gia đình mình.

Vào những ngày cuối tháng Chạp băng giá, trong lúc các cỗ đại bác nghỉ xả hơi vào lúc sáng sớm, anh đặt vợ con vào chiếc ô tô cũ của mình, nhưng mới chỉ kịp chạy lên cầu băng qua sông Sunzha thì rơi vào một lưới lửa súng máy. Chiếc xe bị bắn thủng lỗ chỗ như cái rây bột, chết máy khựng lại, và may sao, không ai bị thương. Mọi người nhảy ra khỏi xe giữa những loạt súng máy vẫn còn tiếp tục vang lên. Và khi đó, để bảo vệ gia đình mình, lần đầu tiên trong đời, cha Cậu bé phải dùng đến vũ khí được trang bị – anh nã hai loạt tiểu liên về phía kẻ thù xa lạ nào đó.

Anh không dám chạy tiếp ra khỏi thành phố. Ôm chặt con trai vào lòng, bám theo sát vợ, đoàn người vội quay về nhà. Nơi đây là trung tâm của mọi sự kiện. Hầu như toàn bộ cư dân ở khu trung tâm thành phố Grozny đã rời khỏi thủ đô, chỉ còn lại một số gia đình người Nga, đa số là hưu trí – họ chẳng biết đi đâu, và cũng chẳng để làm gì.

Gần một tháng trời, vài chục hộ dân trong tòa nhà “Thế giới trẻ em” phải chui rúc dưới tầng hầm, sẵn sàng chờ đợi mọi điều có thể xảy ra.

Đó không còn là cuộc sống nữa mà là một cơn ác mộng khủng khiếp. Dưới những trận ném bom không ngớt, tất cả các công trình xây dựng từ trước cuộc chiến rung lên bần bật, sẵn sàng đổụp xuống bất cứ lúc nào, chôn sống tất cả mọi người.

Trong một cái ngách dưới tầng hầm, mọi người cố gắng bố trí một chiếc bếp – đó cũng là chỗ ngủ của cả nhà, cố giữ không để Cậu bé ra khỏi đó, cậu là niềm hy vọng và hạnh phúc của họ. Lương thực thực phẩm rất ít, món thứ nhất bao giờ cũng dành cho cậu, nhưng khổ nhất chính là nước sinh hoạt. Đêm nào cha cậu cũng cùng với một ông lão phải thực hiện những chuyến đi vô cùng mạo hiểm ra sông Sunzha lấy nước. Dòng nước đục ngầu không chỉ bốc mùi thuốc súng mà còn mùi gì đó rất lạ như mùi máu, nhưng mọi người vẫn phải uống, phải dự trữ và tiết kiệm từng giọt.

Khoảng thời gian gần một tháng ấy kéo dài tưởng như bất tận, thậm chí nước cũng không đủ để rửa sạch đôi tay. Còn Cậu bé, nhờ lời khuyên của các ông già, được tắm hai lần, nhưng không như lệ thường mà là với một nghi lễ trang trọng, được tất cả mọi người vui vẻ hưởng ứng. Thực chất đó là cuộc đấu tranh vì sự sống!

Vào những ngày cuối tháng Giêng năm 1995, những tiếng nổở trung tâm thành phố Grozny gần như dứt hẳn, giống như trận cuồng phong đã chuyển đi nơi khác. Sau đó, các vụ bắn nhau cũng giảm, không gian trở nên yên ắng đến mức đáng sợ. Hai ba ngày liền, người ta có cảm giác nhưđang sống dưới mồ, thậm chí không dám ra sông nữa. Tuy nhiên, cái đói và cái khát còn mạnh hơn cả nỗi sợ. Người ta bắt đầu lần mò ra sông, hai ba lần trong đêm, sau đó cả ban ngày nữa.

Rồi tiếp theo, một vài bà già cũng can đảm ló mặt ra dưới ánh sáng ban ngày của Thượng đế toàn năng. Họ không nhận ra thành phố quê hương mình nữa: Tất cả chỉ còn là những đống đổ nát và rác rưởi, khắp nơi đầy xác chết, chuột cống và chó hoang, đâu đó khói đen vẫn còn bốc lên. Nhưng ơn Chúa, tuyết đã bắt đầu rơi dày, như muốn che đậy tất cả những điều khủng khiếp ấy lại.

Hai ngày liền, trung tâm thành phố vắng hoe, chỉ thỉnh thoảng từng đoàn xe thiết giáp chậm chạp chạy trên các đại lộ nhưđang duyệt binh. Sau đó, chỗ này, chỗ nọ, những con người kiệt quệ như những bóng ma hiện ra từ dưới các khe cổng và các tầng hầm. Trong những cặp mắt mở to của họ chỉ có nỗi sợ hãi, kinh hoàng, đói khát, buồn rầu và cầu khẩn.

Sau vài ngày thời tiết u ám, mặt trời mùa đông bỗng hiện ra rực rỡ. Lớp tuyết dưới đất sáng lên lấp lóa, một chút băng giá đủ làm cho những đôi má ửng lên, và tất cả, như không kìm nổi, nhất là các bà già, liền túa ra khắp thành phố: kẻ tìm người thân, kẻ tìm người quen, ai đó vẫn còn lại chỗở.

Buổi chiều, dưới tầng hầm “Thế giới trẻ em” vang lên tiếng khóc lóc của đám phụ nữ: Nhiều người đã bị vùi lấp dưới những đống đổ nát của các tòa nhà, nhưng vẫn còn những ngôi nhà mà từ đó vọng ra những tiếng kêu cứu, rên rỉ. Họ cầu cứu lực lượng quân đội – vô ích, họ đến đây không phải để cứu trợ mà để đánh nhau. Còn bao nhiêu xác chết đang bị thú gặm trơ xương, thật khủng khiếp! Xe bọc thép và xe tải quân đội “Kamaz” đỗ bên các tòa nhà và cổng vào, lính tráng thì bốc xếp đồ đạc, sĩ quan thì hối thúc, la hét không lấy đồ cũ. Nạn trộm cướp ở nơi có chiến sự là điều không thể tránh khỏi.

… Nhưng dẫu có thế nào thì cuộc sống vẫn cứ là một điều kỳ diệu, lửa vẫn nhảy nhót trong lò, xúp vẫn sôi trên bếp, thậm chí còn đặc hơn trước, bữa tối thì mỗi nhà một vẻ, không thể kể hết. Những vệt dầu mỡ đã quên từ lâu, dính đầy trên môi, trên má, nụ cười và cả tiếng cười nữa bắt đầu xuất hiện trở lại.

– Ôi, các chịơi, chợ họp rồi, hình như chiến tranh đã qua.

– Phải, bao nhiêu là hàng hóa!

– Người mua toàn là lính tráng. Họ có tiền, đầy túi. Họ mua hết, cả chuối nữa.

– Có thấy xe taxi không? Đi đâu cũng chở.

– Tôi hỏi, đi Stavropol, chuyện vặt, miễn là có tiền.

– Nhưng tiền đâu mà trả? Bao nhiêu năm nay, chẳng có một đồng lương hưu.

– Ngoài chợ người ta bảo, sắp tới, tiền truy lĩnh sẽ được chở đến từ Moskva.

Những lời bàn luận tiếp theo, cha Cậu bé không nghe nữa, thông tin ngoài chợ có xe taxi đã đánh thức khát vọng sống trong anh – cần phải nhanh chóng đưa gia đình rời khỏi đây. Ngay sáng hôm sau, anh đã kịp thỏa thuận với tài xế về giá cả chuyến đi về quê, thậm chí còn vỗ vỗ lên vai bác tài rất thân mật.

– Salam aleikum[2]. – Người sĩ quan công an quận nở nụ cười. – Chúng tôi tìm anh suốt hai tuần qua, thậm chí còn cử người về quê anh nữa… Vừa đúng lúc, hôm nay tất cả chúng ta được triệu tập dự hội nghị trên Bộ.

– Ở Bộ à? – Anh ngạc nhiên hỏi lại.

– Dĩ nhiên rồi, ngay cạnh đây, bên sân vận động Dinamo… Đi thôi, nhanh lên.

– Tôi không đi được, không đi được, tôi phải đưa gia đình về quê.

– Anh làm sao thế, phải làm ngược lại mới đúng, bây giờ cần phải đưa tất cả mọi người quay lại thành phố. Chúng ta sẽ được thăng cấp trước thời hạn. Lương cũng khá lắm! Cộng thêm với truy lĩnh, phụ cấp dã chiến, phụ cấp…

Các khoản cộng thêm đó nhiều đến mức, cha Cậu bé không kìm nổi: Cần phải nuôi sống gia đình, mà anh chỉ còn đủ tiền đưa vợ con về quê.

Tại cuộc họp được tổ chức trong hội trường không lớn lắm, không đủ chỗ đứng cho tất cả mọi người, phần lớn là các công chức cũ, ông bộ trưởng mới được điều từ Moskva đến, đọc bài diễn văn bằng một giọng to, khúc chiết, lạnh lùng theo kiểu quân đội. Cuối bài, nhưđể nâng cốc chúc mừng, ông tuyên bố, chẳng bao lâu nữa, hòa bình, trật tự và luật pháp sẽ ngự trị trên khắp Chechnya. Ngay trong ngày hôm đó, ông đại tá phụ trách công tác tổ chức cán bộ, cũng không phải người địa phương và cũng mập mạp nhưông bộ trưởng đã tiếp cha cậu, hứa sẽ nhanh chóng thưởng công xứng đáng, và nhưđể khẳng định điều đó, ông nói:

– Chúng tôi đã gửi hồ sơ của anh về Moskva rồi, chỉ một tháng nữa anh sẽ được phong hàm thiếu úy, đến mùa hè anh sẽ được gửi đi học tại Học viện An ninh ở thủ đô.

– Tôi còn gia đình.

– Rất tốt, ở đó có nhà tập thể dành cho hộ gia đình. Còn bây giờ, đến phòng Tài vụ đi, họ sẽ tính lại lương cho anh trong những năm qua.

Ở phòng Tài vụ, người ta tính lại lương cho anh, kết quả là một khoản tiền lớn đến mức chân anh suýt khuỵu xuống vì quá mừng. Tuy nhiên, chỉ có một chữ “nhưng”: Tiền mặt sẽ được chở đến trong vòng một tháng nữa. Một tháng cũng không dài, anh phấn khởi quay về nhà, và ngay trong buổi chiều hôm ấy, cả nhà chuyển từ tầng hầm lên căn hộ cũ hai phòng ngay trên cửa hàng bách hóa tổng hợp “Thế giới trẻ em”.

Căn hộ đầy bụi và rác, kính cửa sổ vỡ hết, cửa đi nứt toác, tường tróc từng mảng, đó là chưa nói đến việc không có điện, nước, ga. Nhưng cũng chẳng sao, miễn là không ném bom nữa.

Phải mất vài ngày mới dọn dẹp xong căn hộ để có thểở được, cửa sổ được che lại bằng vải sơn, cửa đi được gia cố lại chắc chắn, thêm chiếc bếp củi, và mỗi sáng anh lại chạy ra sông Sunzha lấy nước, cuộc sống coi như tạm ổn.

Thật ra, khoản truy lĩnh, một hai tháng sau vẫn chưa có, nhưng bù lại, lương hiện tại trả đầy đủ và cao hơn nhiều so với trước kia. Tuy nhiên, nếu so sánh với tính chất công việc đầy hiểm nguy, thì khoản lương ấy cũng chẳng nghĩa lý gì. Và anh không chỉ một lần phải ngồi suy ngẫm, có nên bỏ việc hay không, vì ngày nào anh cũng nhưđi trên lưỡi dao, không chỉ một lần giáp mặt với bom đạn. Nhưng đó chẳng phải là điều làm anh lo sợ, anh chỉ sợ con anh sẽ thành trẻ mồ côi.

Tình trạng mất an ninh trong thành phố Grozny ngày càng trở nên nghiêm trọng, và nguyên nhân chính là từ những sắc lệnh không rõ ràng do Moskva ban ra. Đằng sau những ngôn từ đẹp đẽ là tình trạng án binh bất động, có lúc là tiếp tay, thậm chí phản bội nữa. Bắt đầu xuất hiện trò chơi hai mặt ngấm ngầm, trong đó có thể thấy rõ quyền lợi kinh tế của ai đó và chiến lược toàn cầu về địa-chính trị.

Trong bối cảnh như vậy, thành phố xuất hiện khá nhiều băng cướp; dân địa phương núp dưới những câu khẩu hiệu đòi độc lập, tự do tôn giáo, cướp bóc tất cả mọi người, nhất là những người tham gia vào chính quyền mới được thành lập; rồi lực lượng quân đội cũng làm y như thếở khắp nơi, nhưng lại núp dưới chiêu bài “quét sạch” phiến quân, để sau đó tất cả thanh niên đều biến mất, và cùng với họ là những tài sản vật chất quý giá.

Với tư cách là một công chức ngành công an, cha Cậu bé biết rõ, cuộc sống ở Grozny trở nên nguy hiểm vô cùng, nhưng anh không biết phải đưa vợ con đi đâu. Ngôi làng quê hương anh ở bên chân núi, được xếp vào “vùng chiến sự”, ở đấy cũng bị ném bom, bị “quét sạch” đến mức người ta phải bỏ làng phiêu bạt khắp nơi.

Người chủ gia đình chỉ còn niềm hy vọng cuối cùng: Cố sống đến mùa hè để nhận tiền truy lĩnh, rồi được cử đi học ở Moskva, nhưng đến lúc đó còn hai tháng, có thể là ba tháng nữa. Vợ anh là nhà giáo, nhờ vậy anh cũng may mắn tìm được cho vợ một công việc. Chỉ cần băng qua đại lộ Cách Mạng và quảng trường Lenin là đến Nhà Thiếu nhi đang bắt đầu hoạt động trở lại với nhiều lớp năng khiếu khác nhau và họ đang cần giáo viên tiếng dân tộc. Cậu bé suốt ngày ở với mẹ, nhân tiện tham dự tất cả các lớp học. Và lớp đầu tiên cậu tham gia là lớp âm nhạc. Cô giáo dạy nhạc là bà Afanasieva Anastasya Tikhonova vô cùng thích thú khi tiếp xúc với Cậu bé: “Thằng bé có một khả năng cảm thụ âm nhạc rất đặc biệt, lớn lên sẽ càng hoàn thiện, giá có thể gửi nó đến một lớp âm nhạc chính quy nào đó, để nó có thể phát huy hết khả năng của mình… Nói chung, đó là một đứa bé rất kỳ lạ, tôi có thể nói là không bình thường. Nó cứ nhìn thẳng vào mắt, nhưđang giám sát những gì ta nói có đúng như ta nghĩ không vậy”.

Trong lớp nhạc ở Nhà Thiếu nhi, không có nhiều nhạc cụ, chỉ có một chiếc đàn dương cầm đặt ở đấy như làđể làm cảnh: Kể từ khi bắt đầu cuộc chiến, nó không còn vang lên nữa. Những nhạc cụ mới mua chỉ có accordeon và đàn balalaika[3]. Cậu bé ít quan tâm đến những nhạc cụấy, chỉ thích mỗi cây vĩ cầm, nhưng cây vĩ cầm duy nhất lại là tài sản riêng, là kỷ vật gia đình của bà Afanasieva. Bình thường bà rất ít khi đưa cái vật quý đó cho người khác sử dụng, nhất lại là trẻ con.

Về việc Cậu bé là đứa trẻ kỳ lạ, tài năng, cha cậu không chút nghi ngờ (cũng như các bậc phụ huynh khác), nên anh liền chạy ra chợ, nghĩ bụng ở đó cái gì cũng có. Nhưng ở chợ chỉ có những thứ mà chiến tranh cần đến: thực phẩm – bày bán công khai, vũ khí – nửa kín nửa công khai, còn nhạc cụ – không có, vĩ cầm – lại càng không.

Dĩ nhiên, vì con, anh có thể đến những nơi khác để mua cây vĩ cầm, trong một ngày đi cũng kịp, nhưng công việc của anh không có ngày nghỉ, không có nghỉ phép, còn nghỉ bù thì được hứa sang năm sau. Trong khi đó, cuộc sống ở Grozny ngày càng trở nên căng thẳng, giờ đây người ta không thể biết ai là bạn, ai là thù, nếu được bắn lén người ta buộc phải bắn hết. Tuy nhiên anh còn một niềm hy vọng – chờ đến giữa mùa hè, gia đình sẽ lên Moskva, anh sẽ đưa con vào trường học, cả trường nhạc nữa, anh chấp nhận hết, miễn là con anh hạnh phúc.

Mùa hè cũng không còn xa, phòng tổ chức cán bộ yêu cầu anh bổ sung một số giấy tờ. Mọi việc dường nhưđều thuận chèo mát mái, chỉ có điều lương truy lĩnh vẫn chưa có, anh thậm chí cũng không muốn đến phòng Tài vụ nữa, một phần vì xấu hổ, một phần vì vô ích. Thế mà bỗng nhiên họ gọi anh tới, và đến cuối giờ chiều, họ trả cho anh một khoản tiền lớn đến mức anh phải ôm bọc tiền kè kè dưới nách đi bộ qua cả thành phố để về nhà.

Cậu bé hoàn toàn chưa hiểu tiền là gì, nhưng nhìn cha mẹ ngồi trên đi văng đếm đi đếm lại một đống tiền – hàng triệu đồng, cậu cũng rất vui. Đến tận khuya, mọi người vẫn chưa đi ngủ, bàn tính xem thứ gì mua trước, thứ gì mua sau, nhưng sau khi tính kỹ lại, tiền cũng không nhiều đến mức phải bối rối. Quá nửa đêm, sau khi tắt chiếc đèn dầu rồi đi nằm, đặt Cậu bé nằm giữa, hai vợ chồng hai bên, cha mẹ cậu vẫn tiếp tục bàn tính. Đột nhiên, họ bỗng nghe những tiếng bước chận nặng nề bên dưới cổng vào tòa nhà.

Như những con sói cái và sói đực hoảng sợ, hai vợ chồng sững người. Người cha liền cầm khẩu tiểu liên lúc nào cũng để bên mình, người mẹ ôm chặt Cậu bé vào lòng, ngoài cửa vang lên những tiếng gõ rành rọt, một rồi hai tiếng.

– Mila vu[4]? – người cha kéo khẩu súng lên, hỏi.

– Kiểm tra, đề nghị mở cửa ra. – Một giọng Nga đáp lại rất từ tốn.

Một tia hy vọng lóe lên trong đầu người cha – dù sao cũng là người của Liên bang chứ không phải băng cướp nào đó.

– Tôi là thiếu úy lực lượng công an Nga. Đề nghị các anh ngày mai đến, hoặc là mai tôi sẽ tự đến địa điểm các anh ấn định, chúng tôi có con nhỏ đang ngủ.

– Anh cứ mở cửa đi, chúng ta sẽ bàn bạc, kiểm tra.

– Chờ cái gì nữa?! – Một giọng thô tục vang lên. – Nào, mở ra đi! – Tiếng báng súng đập vào cửa rầm rầm, Cậu bé bật dậy.

– Cha mẹơi, có chuyện gì thế? Chuyện gì thế?

– Không sao, không sao đâu. – Người cha chạy tới chạy lui trong căn phòng nhỏ.

Tiếng la hét và tiếng đập cửa mỗi lúc một to.

– Chúng tôi sẽ bắn vào cửa bây giờ. Mở ra ngay! – Lời khẳng định cuối cùng rất có trọng lượng…

Một tay nắm chắc khẩu tiểu liên, tay kia là thẻ chứng nhận công an, anh mở cửa ra. Ngay lập tức năm sáu người trang bị vũ khí đến tận răng, đèn pin sáng lóa trong tay ùa vào phòng, một chiếc đèn rọi khá lâu vào tờ giấy chứng nhận.

– Tôi nghi là giấy giả. – Một giọng trầm khẳng định.

– Các anh nói gì vậy, tôi đã làm trong ngành được năm năm, ngay sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự.

– Thôi được rồi, chúng ta sẽ kiểm tra, dưới kia chúng tôi có xe bọc thép, trong đó có cả máy tính… À, anh có súng hả? Đưa súng đây, đừng lo, đừng sợ.

Sau khi bị tước súng, anh bị đẩy ra cửa một cách thô bạo.

– Cha ơi! – Cho đến lúc này, Cậu bé mới lên tiếng.

– Hãy chờ anh ở đấy! Cứở đấy chờ anh! – Từ dưới cổng, người thiếu úy hét lên với vợ.

Chỉ hai giây sau, từ dưới cổng vang lên tiếng la hét ầm ĩ, sau đó là tiếng rên rỉ, tiếng rên rỉ của người cha.

– Cha ơi! Cha ơi! – Cậu bé định chạy ra cửa, nhưng bị ném lên giường với mẹ.

Nòng súng chĩa vào trán đứa trẻ, người ta nói với người mẹ:

– Đặt hết tiền bạc, nữ trang quý giá lên bàn… nếu không…

Có thể họ đã biết về gói tiền? Và ngay sau khi gói tiền vừa được lôi ra từ dưới đi văng, họ đã giật ngay đôi hoa tai cùng sợi dây chuyền nhỏ của người mẹ rồi tiếp tục lục lọi trong mớ đồ đạc nghèo nàn của gia đình.

Thời gian còn lại của đêm, người mẹ hoảng hốt chạy xuống cổng, rồi chạy lên, chạy xuống, chạy vào giường với con trai, gào khóc thảm thiết, còn to hơn cả tiếng khóc của đứa con nữa. Sau đấy, hình như cóđiều gì đó vụt qua trong đầu, chị dịu lại, bắt đầu dỗ dành con:

– Ngủ đi, cục cưng của mẹ, ngủ đi, con yêu! Sáng mai cha con sẽ về, sẽ mang kẹo và mang cả vĩ cầm về cho con nữa!

Đến gần sáng thì Cậu bé tỉnh dậy, mẹ đứng trước mặt cậu… nhưng không phải là mẹ: quần áo tề chỉnh, vẻ mặt lạnh lùng không thể nhận ra, chỉ sau một đêm khuôn mặt mẹ trở nên hốc hác, sạm lại, nhão ra, với những quầng đen dưới mắt, còn trong mắt mẹ là những tia máu nổi lên, lạnh lùng, vô hồn.

– Con yêu, con dậy rồi à, hãy trở thành người tự do[5]… Cha con chưa về, mẹ phải đi tìm cha, cha con đang đợi mẹ.

– Cha đợi mẹở đâu?

Trước câu hỏi của con, người mẹ như trở về với thực tại, cặp mắt nheo lại, chớp chớp, ngân ngấn nước.

– Mẹ cũng không biết… Mẹ sẽ chạy đến Ban quân quản, rồi đến cơ quan của cha con.

– Con đi với mẹ.

– Mẹ không dám mang con đi… Mẹ sợ, con yêu ạ! Con có nghe cả đêm người ta bắn nhau không? Ở cổng vào bên cạnh, tất cả các ông già bà lão bị bóp cổ chết hết, đồ đạc bị lấy mất, cả tranh Thánh nữa, thậm chí cả đàn dương cầm… Chẳng lẽ họ sẽ chơi đàn hay sao? Làm sao họ có thể nhìn vào mắt các con mình?!

Cặp mắt của người mẹ lại trở nên lạnh lùng, vô hồn.

– Cha con đang đợi mẹ! Mẹ phải chạy đến với cha, giúp đỡ cha, báo cho cha biết mọi chuyện.

– Mẹ hãy đưa con theo!

– Con yêu ơi. – Giờ đây cặp mắt của người mẹ lại trở nên dịu dàng, đẫm nước. – Mẹ sẽ về nhanh thôi… Còn bây giờ, con hãy ăn sáng đi, mẹ đã pha trà, dọn bàn ăn cho con rồi. Đừng quên đánh răng đấy. Không được mở cửa cho bất cứ ai… Không được! – Bỗng nhiên, giọng người mẹ trở nên khàn khàn, khác hẳn, cặp mắt như lồi ra. – Từ trên cao, mẹ sẽ bảo vệ cho con, như thế sẽ an toàn hơn.

– Mẹ hãy ở lại với con!

– Đừng nói thế, con ơi, đừng nói thế, con yêu của mẹ! – Người mẹ đau đớn rên rỉ, chạy lại quỳ xuống, gục đầu vào giữa hai chân con, năn nỉ: – Mẹ cần phải giúp cha con! Cần phải!

– Mẹ có biết cha ở đâu không?

Người mẹ vội ngước lên, cặp mắt vẫn mở to như lúc nãy, trông như hai viên thủy tinh, chỉ có những giọt nước mắt trên má là biểu lộ sự đau đớn, còn ánh mắt thì xa xăm, xa ngái, như hướng vào một cõi vô tận:

– Mẹ biết. – Bằng một giọng rất nhỏ, rất lạ, rất trầm, người mẹ chậm chạp thở ra, nhưng cương quyết bước về phía cửa.

– Mẹ sẽ không về nữa à?

Như bị điện giật, như bị hóa đá, người mẹ ngoái lại:

– Cái gì?! Sao lại “không về”? Sao lại “không về”? – Chỉ đến câu cuối cùng âm điệu của tình mẫu tử mới lộ ra, và người mẹ, như bị ai đó cướp mất đứa con, liền chạy bổ về phía con, ôm chặt cậu vào lòng, hôn tới tấp lên người cậu. Đó không còn là những nụ hôn quen thuộc của người mẹ nữa, chỉ sau một đêm đôi môi của chị như tê dại, khô héo, thậm chí ngay cả hơi thở cũng không còn mang hương vị của cuộc sống. – Cha con đang đợi mẹ, đang đợi mẹ, mẹ cần phải giúp cha. – Người mẹ nhìn con bằng ánh mắt nặng nề.

– Thôi mẹ đi đi, đi đi, con sẽ đợi cha mẹ. – Cố nuốt những giọt nước mắt, Cậu bé thốt lên.

– Phải, phải, cha mẹ sẽ cùng quay về. – Có cảm giác như người mẹ chỉ chờ có lời chúc phúc đó của người con để lao ra cửa.

Nhưng ngay cả khi tiếng ống khóa đã vang lên ngoài cánh cửa, mới chỉ vừa dợm bước, chị như chết điếng, vội quay lại, lao vào nhà như một cơn lốc, ôm chầm lấy đứa con, nhìn nó bằng ánh mắt nhưđã hóa dại, như muốn ghi khắc hình bóng nó, rồi chị không hôn nó nữa, chỉ nặng nề thở khò khè, hít hít như muốn hút linh hồn của đứa con vào lòng…

 

Điều khủng khiếp nhất đối với Cậu bé, không phải là cái ngày dài, nóng nực đầu tiên trong nước mắt và những tiếng rên la, cầu khẩn mà chính là đêm hôm đó. Bình thường, lúc chiều tối là khoảng thời gian tĩnh lặng kỳ lạ trong thành phố Grozny bán vũ trang. Ban ngày, có nhiều dân thường, cùng với các đoàn xe bọc thép và các loại xe cộ khác nhưđang tham gia vào việc khôi phục thành phố, thì tiếng kêu la của Cậu bé chẳng khác gì tiếng chít chít trong cỗ máy tua-bin. Nhưng đến đêm, khi sự tĩnh lặng bao trùm khắp nơi, thì chỉ có những toán cướp vũ trang như những con chuột cống, lùng sục trong bóng đêm để săn lùng những nạn nhân tiếp theo. Sợ bóng đêm, Cậu bé phải leo lên giường, thu mình lại như cuộn len và trùm lên người không chỉ một mà hai tấm chăn để không ai nghe thấy tiếng thút thít của cậu.

Suốt một ngày dài dưới ánh nắng mặt trời, căn phòng với những ô cửa sổ che tạm bằng vải sơn bị nung lên, ngột ngạt như trong nhà tắm hơi, Cậu bé đổ mồ hôi như tắm dưới những tấm chăn. Không chịu nổi cái nóng, nhưng cậu cũng chỉ dám he hé chăn vừa đủ thò mũi ra để thở. Cũng may là vạn vật luôn có khả năng thích nghi, chẳng bao lâu sau, vì quá mỏi mệt, cậu cũng thiếp đi như mọi đứa trẻ khác. Sáng, tỉnh dậy, Cậu bé phờ phạc, cả người ướt sũng vì mồ hôi, nước mắt và cả nước tiểu nữa. Chăn bị đẩy rơi xuống sàn, một con chuột cống mập ú đang đánh hơi ở góc chăn, chờ xác chết, còn trên bàn, hai con chuột nhắt đang nhấm nháp những mẩu đồ ăn còn sót lại.

Ngày hôm sau, cũng như ngày đầu, bắt đầu bằng những tiếng gọi cha mẹ. Tuy nhiên, việc đó cũng qua nhanh vì cái bụng đói réo sùng sục. Cậu bé ăn tất cả những gì có thể ăn được, thậm chí cả miếng bánh mì còn sót lại sau khi lũ chuột đã gặm. Lần đầu tiên, cậu bắt đầu hành động – cậu lấy hết sức đập vào cửa ra vào, hy vọng ai đó sẽ nghe thấy, thấm mệt, cậu quay sang hướng đối diện – cửa sổ. Hướng này, ngay từ khi còn nhỏ cha cậu đã dặn không được đến gần, sẽ bị ngã, cũng như không được chơi diêm, nếu không thì cậu đã có thể nhóm lò.

Sau khi ăn trưa, lúc gần chiều, cậu tìm thấy trong tủ khá nhiều kẹo bánh, cả mứt dẻo nữa. Điều phát hiện này làm tâm trạng cậu phấn chấn hẳn lên, cậu còn muốn chơi đồ chơi nữa. Nhưng tất cả những điều đó kéo dài không lâu, lúc trời bắt đầu chạng vạng, cậu lại la hét, lại đập vào cửa, lại bị cái nóng không chịu đựng nổi hành hạ, và cậu, dù vẫn nhớ không được đến gần cửa sổ, nhưng cũng nhớ cha cậu đã dùng dao để rọc vải sơn, rất dễ.

Một làn không khí mát rượi ùa vào trong phòng, và cậu, như không còn nhớ gì nữa, chạy đến sát cửa sổ, từ đó vọng lại âm thanh của cuộc sống, âm thanh của thành phố.

– Cha ơi, mẹơi! – Cậu hét ra ngoài đường, giọng to hơn hẳn những lần trước, nhưng hướng này hơi bị tách biệt, dân chúng ít lai vãng, xe cộ hầu như không qua lại.

Bóng đêm đẩy Cậu bé lùi ra khỏi cửa sổ, và bây giờ cậu lại phạm một điều cấm nữa – cậu châm nến lên. Nhưng cậu không dám la hét nữa, chỉ chui xuống dưới chăn, ló mỗi khuôn mặt ra, cứ nhìn mãi vào ngọn nến trên bếp lò, tin rằng cha mẹ cậu sẽ từ ánh sáng của ngọn nến bước ra, nhưng rồi ngọn nến tắt hẳn, và như trước, cậu lại sợ sệt co mình, rúc sâu vào trong chăn, chỉ thỉnh thoảng mới dám gọi khẽ: “Cha ơi! Mẹơi! Cha mẹ hứa quay lại với con cơ mà! Sao cha mẹ không đưa con theo?”.

Đêm thứ hai hóa ra còn thảm hơn nhiều – cậu không chỉ đổ mồ hôi mà còn làm xô lệch giường nệm. Điều đó càng làm cậu thất vọng, vì cậu luôn được cha mẹ khen là ngăn nắp. Cậu muốn sắp xếp lại, thậm chí giặt tấm vải trải giường nữa, nhưng kết quả là cậu lại làm bẩn nhà tắm và phí mất một xô nước. Cộng thêm vào đó là một tai họa khác: Cậu bắt đầu phải chạy vào nhà xí thường xuyên hơn, rồi khi ăn đồ ngọt vào, cậu lại nôn ra.

Đến trưa thì cậu hoàn toàn kiệt sức, bụng đau và mặc dù không khí nóng nực nhưng cậu lại cảm thấy ớn lạnh, chân tay đau nhức. Cậu rên khe khẽ, leo lên đi văng, rồi vừa lăn lộn vì đau, vừa gọi cha mẹ. Giờ đây, cậu chỉ cầu xin một điều – nước!

Cậu tỉnh dậy vào lúc nửa đêm vì cơn khát cháy cổ. Xung quanh tĩnh lặng và tối đen như dưới mồ, chỉ trong phòng vệ sinh là có nước, nhưng từ đó phát ra những tiếng loạt soạt, chắc là chuột cống, cậu không dám vào. Cơn khát vẫn tiếp tục hành hạ, cả đầu và bụng đều đau nhức, và khi định ngồi dậy, bỗng cậu nghe từ phía đường phố vọng lại tiếng la hét ầm ĩ, một tiếng súng, một tràng súng máy, rồi một tiếng nổ, một tiếng nổ nữa, rất gần, đến nỗi cả căn phòng sáng lóa lên. Và dù những tiếng động ấy bắt đầu như thế nào và kết thúc ra sao, sự im lặng lại bao trùm, thậm chí đám chuột lại bắt đầu chạy loăng quăng. Cậu bé chờ rất lâu, chăm chú lắng nghe mọi động tĩnh, và khi nhận thấy tiếng sột soạt không còn nữa, cậu thận trọng dò dẫm từng bước vào nhà tắm. Phải mò mẫm mãi mới tìm thấy chiếc ca, cậu vội uống ừng ực, không cần biết cái ca nước sông Sunzha để lâu ngày ấy đã bốc mùi là lạ.

Sáng hôm sau, Cậu bé dậy muộn, cả người ướt sũng, quanh cậu xuất hiện thêm các sinh vật mới nữa – ruồi bay lượn vù vù, muỗi bám đầy tường. Bản thân cậu, mề đay nổi khắp người, mi mắt sụp xuống mở rất khó, cổ họng khô khốc. Rất có thể cậu đã không thể ngồi dậy, nhưng cơn khát chết người đã kéo cậu vào phòng tắm, ở đó, ngay bên xô nước, một con chuột cống to tướng với cái đuôi dài khủng khiếp đang đứng trên hai chân sau thò mõm vào trong xô. Nhìn thấy cậu, nó bình thản tụt xuống không chút sợ sệt, rồi chậm chạp bỏ đi.

Cậu bé đã đứng ở ngưỡng cửa phòng tắm, định cầm chiếc ca, nhưng ngã vật xuống sàn, và vào đúng giây cuối cùng, cậu vẫn còn kịp nhìn thấy cặp mắt ti hí xấc xược của con vật. Có cảm giác con vật khốn kiếp kia sẵn sàng nhảy vào người mình, cậu hét lên một tiếng kinh hoàng rồi bật dậy, nhảy lùi lại, bị vấp vào ngưỡng cửa, trượt chân văng ra hành lang, cái đầu vốn đã đau lại bị đập vào tường. Rất có thể, vào thời điểm khác, cậu sẽ nằm mãi như vậy, khóc lóc, rên rỉ, nhưng lần này, nỗi sợ hãi trước con vật gớm ghiếc đã mạnh hơn. Cậu nhìn vào phòng tắm, cố gượng dậy và kinh hoàng nhận ra, con chuột cống không những không đứng yên mà ngược lại, còn tiến về phía trước, hít hít một cách thèm thuồng và đã đặt một chân lên ngưỡng cửa phòng tắm. Cậu còn hoảng sợ hơn nữa khi nhận ra cái bàn chân của con vật trông rất giống với bàn tay người thu nhỏ, y như trong các bức tranh minh họa truyện cổ tích ở Nhà Thiếu nhi.

Con chuột cống xấc xược ngoe nguẩy mấy sợi râu, tiến thêm một bước nữa về phía trước, đến nước này thì Cậu bé không thể chịu đựng hơn được nữa, bèn lấy hết sức lực còn lại hét lên một tiếng kinh hoàng. Con chuột cống biến mất. Cậu bé chạy vào trong phòng, leo lên bàn, nhưng cậu không chịu được lâu, cơn khát vẫn tiếp tục hành hạ. Còn con chuột cống, có thể thấy rõ tình hình của nó cũng giống như cậu vì từ nhà tắm lại bắt đầu vang lên tiếng sột soạt.

Đến lúc này thì Cậu bé nhưđã bắt đầu hồi sinh. Có điều gì đó xáo trộn trong lòng, cậu muốn uống nước, cậu muốn sống, cậu không muốn nhường ngụm nước cuối cùng cho bất kỳ ai. Dĩ nhiên, cậu không biết đó chính là cuộc đấu tranh sinh tồn, là xung đột, là cuộc chiến để giành lấy môi trường sống và nguồn tài nguyên có hạn. Cuộc sống là vậy.

Tụt khỏi bàn, cậu bắt đầu tìm kiếm vũ khí tấn công và phòng thủ. Mặc dù đồ vật khá là phong phú nhưng cậu chọn cây lau sàn – cần phải giữ khoảng cách an toàn với kẻ thù.

Cậu chọn vị trí thuận lợi và chuẩn bị sẵn sàng, cặp mắt toát lên sự kiên trì. Cậu không phải chờ đợi lâu. Không thèm để ý đến Cậu bé, con chuột cống lao nhanh vào nhà tắm, nhảy phắt vào trong bồn tắm làm xước cả thành bồn, chạy đến chỗ chiếc xô rồi đứng lên hai chân sau và chỉ cần một tích tắc nữa là nó đã nhảy vào trong xô nước, Cậu bé liền tấn công. Xô nước đổ nhào phát ra một tiếng động, con chuột cống biến mất và nước cũng chảy hết, dưới đáy bồn chỉ còn lại những xác ruồi đã bị chết đuối trong xô.

Cậu bé kinh hoàng, không còn nghĩ đến cha mẹ và bất cứ điều gì nữa, mà chỉ muốn uống nước.

– Nước! Nước! Cho con ra khỏi đây! – Cậu bé đổụp xuống, thét lên, hai tay đập nhưđiên loạn vào cánh cửa, rồi lao đến bên cửa sổ, giơ tay vẫy loạn xạ, nhoài hẳn người ra ngoài, sẵn sàng tiến thêm một bước nữa để đến với dòng sông ngay bên cạnh, nhưng tiếng nước chảy của nó đã bị những âm thanh ồn ã của thành phố át đi. Đột nhiên cậu bỗng nghe thấy tiếng gõ ngay sau lưng mình, mỗi lúc một to hơn, cả tiếng gọi bằng tiếng Chechnya nữa.

Cậu lao như tên bắn về phía cửa.

– Cháu ơi, cháu cóở trong đó không? Sao cháu lại ở đó? Đừng làm ầm lên nữa! – Giọng thì thào lọt qua khe cửa.

– Cứu! Nước! Nước!

– Được rồi, đừng kêu nữa. Cứ chờở đấy. Đến tối chú sẽ quay lại.

– Không! Không! Cứu cháu! Đừng đi! Cứu cháu!

– Được rồi! Được rồi! – Giọng nói bên ngoài cửa cũng gay gắt không kém. – Cháu đứng xa cánh cửa ra. Xa ra.

Có cái gì đó đập rất mạnh vào cánh cửa, rồi một lần nữa, bụi bay mù mịt, vữa rơi lả tả, nhưng chẳng ăn thua gì. Khi đó, có một vật khác, hình như là chân, dộng vào, nhưng cánh cửa vẫn không đầu hàng.

– Cháu ơi, cháu có nghe chú nói không, chú sẽ bắn đấy, đứng sang một bên! Nấp đi! – Tiếng hét rất to ngoài cánh cửa.

Cậu bé chạy vào nấp trong căn buồng nhỏ bỏ không. Cậu ngồi xổm, bịt hai tai lại nhưđãđược dạy, những phát súng vang lên chát chúa, đơn độc. Sau đó lại nghe một cú đạp, trần nhà như sập xuống, bụi dập dờn như sóng.

– Cháu ở đâu?

Bàn tay thô ráp nhưng ấm áp chạm vào người cậu.

– Nào, uống đi.

Chỉ đến lúc đó Cậu bé mới mở mắt ra, hai tay giữ chặt bi đông nước, đưa vào giữa cặp môi khô nứt, xám xịt, hai hàm răng kẹp chặt vào miệng bi đông.

– Đừng vội, từ từ thôi. – Người đàn ông trung niên, râu quai nón, vỗ về, kìm cậu lại.

Cậu bé uống hết một nửa bi đông nước, chút nữa thì bị sặc, không rời mắt khỏi chiếc bi đông, nghỉ lấy hơi một chút rồi lại thèm thuồng đưa nó lên miệng, và khi trong bi đông chỉ còn lại một chút, cậu mới cảm thấy đã cơn khát. Chiếc bi đông tuột khỏi tay, còn chính cậu thì ngã vật xuống.

– Ôi, ôi, ôi! – Trong suốt thời gian đó, người đàn ông râu quai nón tỏ ra rầu rĩ. – Ai làm cháu nên nông nỗi này thế? Ai?… Rõ rồi, chiến tranh! Nào, đi thôi. – Ông bế Cậu bé lên đưa sang phòng bên, tìm chỗ đặt cậu xuống, nhưng ngoài cái bàn trông như bàn giải phẫu, thì chẳng còn chỗ nào khác. Ông thận trọng đặt cậu xuống, cởi quần áo bẩn của cậu ra, nhưng mắt lúc nào cũng nhìn ra cửa, khẩu súng máy trong tay luôn ở tư thế sẵn sàng.

Sau đó người đàn ông tìm thấy tấm vải trải giường sạch ở trong tủ, liền quấn vào người cậu, còn cậu đã bắt đầu mê sảng, rên rỉ và lảm nhảm cái gì đó.

– Dela[6], mình biết làm gì với thằng bé này bây giờ? – Người đàn ông bối rối, đi đi lại lại trong phòng, nhìn ra cửa sổ rồi chạy ra cửa. – Thằng bé nóng như hòn than! Nó bị sốt cao! Phải cứu nó! – Ông thận trọng bế Cậu bé lên vai bằng một tay, tay kia vịn vào tường, theo cầu thang lên tầng trên.

– Nước! Nước! – Cậu bé rên rỉ, cái đầu không còn chút sinh khí vật qua vẹo lại trên bờ vai rộng của người đàn ông.

– Chúa ơi, mình làm gì thế này? – Đến lúc đó, người đàn ông mới quan sát Cậu bé một cách kỹ lưỡng. – Trời ạ, thằng bé như một thiên thần. – Rồi ông lại tiếp tục như nói với chính mình hay là với ai đó: – Mình làm gì thế này? Nó là tương lai của đất nước, còn mình, không hôm nay thì ngày mai cũng sẽ thành xác chết, mình đã ở đây một ngày một đêm rồi, chẳng khác gì cái bẫy. Mình sẽ hạ thêm hai, ba mạng nữa, nhưng rồi sẽ ra sao? Có ích gì đâu… Thằng bé này sẽ phải bỏ mạng cùng với mình mất thôi.

Người đàn ông đi về phía ô cửa sổ vỡ toang, liếc nhìn ra ngoài, nhìn lại một lần nữa rồi hét lên:

– Này, lũ ngốc kia! Các anh có nghe tôi nói gì không? Tôi còn rất nhiều vũ khí dự phòng, nhưng ở đây có một đứa bé, đang bị bệnh!… Tôi xin đầu hàng! Các anh có nghe tôi nói không. – Người đàn ông bắn lên trời một phát làm cậu bé giật mình mở mắt ra. – Tôi có thể cầm cự được đến tối, khi đó chưa biết sẽ ra sao! Nhưng tôi xin đầu hàng, tôi sẽ bước ra cùng với đứa bé, nó sốt rất cao.

Người đàn ông thở gấp một cách nặng nhọc, lẩm bẩm cầu nguyện rồi chậm chạp bước xuống. Còn Cậu bé, dường như bỗng cảm nhận được một sự thay đổi nào đó, và không hiểu sao, cậu lại muốn nhìn vào mắt người đàn ông có râu quai nón. Cậu ngẩng đầu lên, chăm chú nhìn vào mặt ông. Bộ râu quai nón màu đen, dày, rậm, lốm đốm bạc, làn da sạm nắng, đầy vết nhăn, hốc mắt bám đầy bụi đất và mùi thuốc súng, chỉ có đôi mắt to là nhưđang cháy lên, thoát ra khỏi đời sống thực tại, phiêu diêu trong một cõi vô hình, giống nhưánh mắt cuối cùng của mẹ. Không hiểu sao, cậu có linh cảm sẽ sớm chia tay với ông bác này, mãi mãi, cậu nghiêng về phía ông, ép cổ lên bờ vai mạnh mẽ của ông, và ngay lúc đó cậu nhận ra mùi cơ thể ông, mùi của thần chết và mùi của chiến tranh. Không hiểu có điều gì xui khiến, cậu chạm vào bộ râu quai nón của ông, ghé sát tai ông, thì thầm: “Bác hãy nói với cha mẹ cháu, cháu đợi họở đây!”. Người đàn ông không nói gì cả, thật ra, ông có gật đầu, nhưđã hiểu điều cậu nói. Ngay tại lối ra, ông nặng nhọc hít một hơi dài, uể oải bước ra đường.

– Đừng bắn, đừng bắn bây giờ. – Người đàn ông thận trọng đặt Cậu bé vào sát chân tường, rồi vội vàng bước sang bên.

– Bỏ vũ khí xuống! Nằm xuống! Úp mặt xuống đất, đồ súc sinh! – Những tiếng hét rộ lên từ bốn phía.

Người đàn ông ném khẩu tiểu liên xuống đất, bật cười ồồ, rồi đột ngột lao sang bên cạnh, những tràng súng máy vang lên chát chúa, găm ông dính vào tường nhưđóng đinh, tả tơi thân xác… Nhưng Cậu bé không nhìn thấy tất cả những điều đó, thậm chí không nghe thấy gì cả, cậu đổ vật xuống đất…

Như trong một màn sương mờ, Cậu bé chỉ nhớ mang máng người ta bế cậu trên tay, chở cậu trên chiếc xe rất bẩn và xóc, rồi chuyển sang chiếc khác mềm và êm hơn. Và cậu đã ngủở nơi nào đó khá yên tĩnh. Cậu bị đánh thức dậy bởi tiếng rít của đạn pháo, tất cả mọi vật xung quanh như rung lên, bay loạn xạ, cậu cảm thấy nghẹt thở, rất khó chịu.

– Dậy đi, dậy đi cháu! – Một giọng ngực, dịu dàng bằng tiếng Nga, bàn tay xoa xoa lên đầu cậu. – Nào, đến giờ rồi, dậy đi thôi.

Một thế giới mới, tĩnh lặng. Trước mắt cậu là một khuôn mặt phúc hậu, hồng hào, xinh đẹp; đôi mắt màu xanh da trời lấp lánh, dịu dàng, chân chất; làn da ở cổ cũng như toàn thân đều một màu trắng mịn, và mọi thứ xung quanh cũng một màu trắng, chỉ có chùm hoa đồng nội tỏa hương thơm ngát là màu sắc rực rỡ, và sự tiện nghi, ấm cúng, tình yêu tràn ngập mang lại cho căn phòng nhỏ một bầu sinh khí.

Tình yêu[7]! Đó là tên của người phụ nữ trẻ xinh đẹp, và có thể thấy rõ là mọi người rất yêu quý cô, tất cả các sĩ quan đều tặng hoa cho cô, nhưng Cậu bé nhận thấy, cô chỉ vui vẻ nhận hoa từ một người đàn ông nào đó còn trẻ cũng có khuôn mặt hồng hào, rồi sau đó, lúc chỉ có một mình, cô kín đáo hít hít mùi hương của bó hoa.

– Này Liuba, Liubov Nikolaievna, chúng ta đi xem phim chứ? – Chiều nào cô cũng nhận được những lời mời mọc của đám phụ nữ, còn đàn ông thì mời cô đi nhà hàng, nhưng cô chỉ mỉm cười từ chối tất cả. Giờ đây, buổi chiều cô có thêm một công việc yêu thích nữa, cô mua cho Cậu bé chiếc xe đạp nhỏ, và tất cả thời gian rảnh rỗi cô tập xe cho cậu, cả quân y viện chỉ có một đứa bé nên mọi sự quan tâm đều dành cho cậu.

– Giống đấy chứ, thậm chí còn rất giống nữa. – Đám phụ nữ trêu chọc.

– Hay là từ anh chàng nào? – Các sĩ quan nửa đùa nửa thật.

Còn Liubov Nikolaievna thì cảm thấy hạnh phúc, và cô không thể che giấu niềm vui sướng của mình, vuốt ve mái tóc xoăn vàng óng của Cậu bé, thì thầm với nó hay là với chính bản thân mình:

– Đấy, không mong, không cầu, mà có con trai… cô sẽ nhận cháu làm con nuôi, chẳng phải vậy sao?! – Cô hoảng sợ nhìn quanh, đưa tay lên miệng, rồi lại liên tục nhìn vào đồng hồ, cứ đến đêm là tâm trạng của cô lại không được thoải mái, họ phải về nhà.

Nhà của cô là một căn phòng nhỏ dành cho nữ y tá trưởng kiêm quản lý Liubov Nikolaievna, nơi bây giờ cô sống cùng với Cậu bé. Trước khi đi ngủ, hai cô cháu cùng uống trà đường, ăn trái cây, rồi nhất thiết phải xem chương trình thiếu nhi “Chúc bé ngủ ngon”. Sau đó cô tắm cho cậu, đặt cậu lên giường, đọc cho cậu nghe một truyện trẻ em gì đó bằng giọng mỗi lúc một yếu dần, và thường nhìn lên đồng hồ, nói: “Nào, ngủ đi, ngủ đi cháu! Chúc cháu ngủ ngon!”. Hầu nhưđêm nào cô cũng nghe thấy tiếng bước chân nặng nề ngoài hành lang, chẳng cần gõ, chỉ nghe tiếng cánh cửa giật giật là cô mở cửa. Cậu nằm xoay lưng lại, cố ngủ, căn phòng tràn ngập mùi đàn ông lạ hoắc, khó chịu, cùng giọng nói, dù nhỏ nhưng đầy quyền uy và thô lỗ.

– Chờ đã, nó chưa ngủ. – Lần nào cậu cũng nghe giọng nói buồn bã của cô Liubov Nikolaievna. Họ còn rót thứ gì đó vài ba lần, tiếng sột soạt của giấy thiếc. – Xin anh đừng hút thuốc, có trẻ con!

– Vậy thì nhanh lên.

Sau mệnh lệnh đó, chiếc đi văng được kéo xê ra, đèn tắt, khi đó thì cậu cũng thiếp đi.

Đôi khi cậu thức giấc vào lúc nửa đêm vì tiếng nước chảy, đó là cô Liubov Nikolaievna tắm, rất lâu. Sau đó cô nằm lên đi văng, trằn trọc mãi, thở khò khè, thường thì ngay từ đầu cô đã bật khóc, sau đó vội sang nằm với cậu, điều cậu rất muốn. Nghĩ là cậu đã ngủ, cô vừa thút thít vừa ôm hôn cậu, thậm chí còn lầm rầm điều gì đó nữa.

Sáng ra, chiếc đi văng đã được dọn dẹp ngay ngắn, cứ như là không có chuyện gì xảy ra trong đêm. Cô Luiba đánh thức cậu dậy ăn sáng, vẻ mặt lúc nào cũng dịu dàng như trước ngày lễ. Có cảm giác, mọi việc sẽ mãi như thế, thậm chí còn tốt hơn, và ban đêm sẽ không có ai đến nữa, cô Liuba sẽ không phải thường xuyên nhìn vào đồng hồ, và cô sẽ trẻ đẹp hơn, hạnh phúc hơn. Nhưng đột nhiên, mọi chuyện bỗng sụp đổ trong tích tắc.

Một buổi sáng, Liuba chạy đến nơi làm việc, nước mắt giàn giụa, úp mặt xuống giường, khóc lóc thảm thiết. Đám đàn bà xúm lại.

– Bình tĩnh đi, Luiba. Hắn là đồ chó, đồ chó.

Lát sau, một sĩ quan lớn tuổi, có ria mép xuất hiện, theo sau ông là một phụ nữ còn trẻ, cao ráo, cân đối, trang phục như diễn viên.

– Hừm! – Viên sĩ quan che miệng ho khan, vân vê rất lâu bộ ria mép. – Liubov Nikolaievna, xin lỗi, nhưng công việc phải vậy. Mệnh lệnh là mệnh lệnh. Đây là y tá trưởng kiêm quản lý mới của chúng ta.

– Đó không phải là y tá trưởng kiêm quản lý mới. – Đột nhiên Liubov Nikolaievna bật dậy. – Đó là con điếm mới, cũng giống như tôi thôi!

Người phụ nữ trẻ thô lỗ hậm hực, chút nữa thì lao vào cuộc ẩu đả nếu không được can ra kịp thời. Mọi người tản ra. Một sĩ quan khác xuất hiện, trẻ hơn, nhưng Cậu bé hiểu ngay, cũng là người chỉ huy.

– Tôi đã phục vụ mười năm, mười năm qua tôi đã đi khắp các đơn vị trên cả nước và ra nước ngoài nữa. – Liubov Nikolaievna lạnh lùng nói. – Chẳng lẽ tôi không xứng đáng được cấp căn hộ một phòng ở đâu đó, thậm chí ở tận Kamtsaka?

Viên sĩ quan cũng nói cái gì đó, cuối cùng vung tay lên rồi bỏ đi. Thêm một ngày nữa Liubov Nikolaievna chưa chịu “đầu hàng”, nhưng rồi chính con người đó xuất hiện. Dù chưa một lần thấy mặt, nhưng Cậu bé nhận ngay ra người đó qua tiếng bước chân ngoài hành lang. Như có linh cảm, Liubov Nikolaievna cố gượng dậy, cau mặt lại.

– Liuba, Liubushka. – Viên sĩ quan lên tiếng bằng một giọng ngọt ngào. Đó là một người cục mịch, rắn chắc, đã có tuổi, lông mày rậm, da ngăm ngăm.

– Đừng làm thế trước mặt thằng bé. – Cô Liuba cố né những cử chỉ thân mật của người đàn ông. – Ra ngoài hành lang đi.

Thoạt đầu chỉ nghe giọng đàn ông “bu-bu” và giọng đàn bà nhỏ nhẹ, sau đó cả hai giọng đều to lên, mọi người đều nghe rõ.

– Sao cô cứ bám vào tôi nhưđỉa đói thế, ghen à? Cô là gì với tôi, vợ à?

– Vấn đề chính là vì tôi không phải là vợ. Nhưng anh đã giọt vắn giọt dài thề thốt sẽ chăm lo cho tôi suốt đời. Bây giờ, chắc là đã “chăm lo đủ rồi” phải không? Mười năm qua, anh đã tha tôi theo như một con điếm, còn bây giờ tôi đã già, anh đã có người khác. Để thoát khỏi tôi, anh đẩy tôi đến vùng chiến sự Chechnya. Tôi mừng vì sẽ không phải nhìn thấy tất cả các anh nữa, nhưng bao năm qua anh đã hứa cấp cho tôi một căn hộ?

– Việc đó ngoài khả năng của tôi!

– Ngoài khả năng của anh à? – Cô Luiba cắt ngang. – Vậy mà tôi biết, mỗi đứa con của anh đều có một căn hộ, lại còn hai căn dự phòng ở Moskva nữa.

– Thôi, thôi, cô không được xía vào chuyện riêng gia đình tôi.

– Tôi đã ba mươi rồi, tôi còn mẹ già…

– Trước đây sao không thấy cô nhắc đến mẹ già… Tóm lại, cô vẫn là quân nhân, chúng ta đang ở vùng chiến sự, trong tình trạng chiến tranh. Hoặc là cô chấp hành mệnh lệnh, hoặc là…

– Aleksandr Viatseslavovich, anh Sasha[8], em muốn có chồng…

– Xin mời, chỉ có điều tuần trăng mật ở điểm nóng Chechnya, sau đó lấy chồng, rồi sẽ nhận được căn hộ.

– Sasha!

– Thôi đi đi! Để tôi yên!… Biết đâu, cô đã kiếm được chỗ nào rồi, giờ lại “cắm sừng” cho tôi cũng nên.

– Em đã già rồi, anh đã chán em rồi chứ gì! Thừa nhận đi!

– Cô im đi! Tôi ra lệnh cho cô im đi!

– Aleksandr Viatseslavovich, xin anh, hãy vì hương hồn của cha.

– Đừng có đụng đến ông ấy! Im đi! Cô đã phung phí hết ba căn hộ, đi khắp các khu an dưỡng.

– Em có con nhỏ, xin anh hãy thương.

– Cái gì? Thằng bé kia!… Liên quan gì đến cô?… Tập trung lúc hai giờ, tàu đến lúc mười giờ… Còn thằng bé, Nhà nước sẽ xem xét.

Chỉ trong vòng một ngày, người phụ nữấy đã biến đổi một cách ghê gớm, nhất là đôi mắt, từ màu xanh da trời sinh động trở nên trắng bệch ra, hốc hác, vô hồn.

– Nếu cô gặp cha mẹ cháu, xin cô nói với họ, cháu sẽ đợi. – Đột nhiên Cậu bé thốt lên.

– Làm sao cháu biết cô sẽ đi Chechnya?

Cậu bé không nói gì. Người phụ nữ ôm hôn cậu, đôi môi của cô đã trở nên khô khốc.

– Nói cho cô biết tên họ của cháu, sau này cô sẽ tìm cháu ở đâu?

– Cháu sẽ tìm được cô.

– Cháu à?

Người phụ nữ lùi lại, cặp mắt mở to, nhưng ánh mắt như phiêu diêu đâu đó, rất xa.

– Liubov Nikolaievna, bàn giao. – Một nữ y tá xuất hiện trước cửa.

– Vâng, vâng, tôi đến ngay đây. – Người phụ nữ đứng lên, đi ra cửa, rồi ngoái đầu lại: – Cô sẽ quay lại chia tay với cháu.

Cậu bé không gặp lại người phụ nữấy nữa. Hai phút sau, một sĩ quan nào đó xuất hiện, thậm chí cũng không cho cậu kịp lấy chiếc xe đạp, nắm tay cậu, dắt qua suốt sân tập đến tòa nhà khác, và ở đấy cậu được “Nhà nước quan tâm xem xét”.

Đêm đó, không ai cho cậu ăn, cậu ngủ trên tấm phản, đắp chiếc áo ca-pốt. Sáng hôm sau, vẫn người sĩ quan đó đưa cậu đến một nơi màở đó tất cả đều mặc đồng phục giống như cha cậu – công an. Suốt cả ngày, họ cũng không cho cậu ăn, nhưng ai cũng hỏi cậu tên gì, con ai, từ đâu tới và đủ thứ khác nữa. Sau đó, họ còn chụp ảnh cậu nhiều lần, thậm chí còn bôi đen các ngón tay cậu, còn cậu thì cứ khóc thảm thiết, thở hào hển và xin uống nước. Mãi đến chiều tối cậu mới được ăn, rồi được đưa lên tàu hỏa với một bà cô mập mạp và cô ta vừa lên tàu đã ngáy khò khò trước cả cậu. Sau một ngày, cậu đến một nơi toàn trẻ em gầy gò mà mới thoạt nhìn thấy rất lạ. Đây là “Nhà Thiếu nhi”, nhưng không hiểu tại sao bọn trẻ lại gọi là “trại”.

Ngay lập tức, Cậu bé bị húi trọc, thay bộ quần áo bằng vải thô màu xám, và cậu liền trở nên giống như những đứa trẻ khác – gầy gò, gượng gạo, trông như con nòng nọc, chỉ có đôi mắt, đôi mắt biết suy nghĩ màu xanh da trời trông lại càng to hơn, buồn hơn và bí hiểm hơn.

Ngày đầu tiên ở đây cũng được bắt đầu bằng việc kê khai lý lịch. Tưởng Cậu bé không biết tiếng, hay là không muốn khai báo, người ta tìm được một cô bé trạc mười tuổi, cao ngồng, tóc hung, ở đây gọi là Zoia, để làm phiên dịch. Nhờ Zoia mà cậu có tên là Cậu bé và thế là xong, không có điều kiện và mọi thứ khác để thẩm tra các dữ liệu nữa. Cậu được cấp chiếc giường cũ nhất và ọp ẹp nhất, nằm trong góc ẩm ướt. Trong bữa chiều, đám trẻ lớn tuổi vơ hết bánh mì, còn cậu, trước khi đi ngủ bị chúng bắt phải lau chùi nhà xí.

Toàn những việc Cậu bé không thể và không muốn làm, cậu chỉ muốn ngủ. Đêm đầu tiên cậu bị đánh một trận ra trò, cậu khóc lóc, kêu gào, càng bị đánh đau hơn. Giữa chừng, đột nhiên lũ trẻ bỏ chạy mất dạng trong hành lang tối mờ mờ, trước mặt cậu xuất hiện cô bảo mẫu gầy nhom đeo kính cận.

– Đứa nào la hét ầm ĩ ở đây?

Cô túm tai Cậu bé vặn rất mạnh, rồi nhấc cậu lên ném vào trong góc:

– Đứng ở đấy đến sáng! Không được ăn! Đồ quỷ sứ!

Cô đi về phòng mình, tắt đèn.

Cậu bé đứng thút thít rất lâu, mệt bã người, rất muốn ngủ, vừa lúc ấy có một đứa bé trạc tuổi cậu tiến lại gần:

– Mình là Dima. Chúng ta kết bạn đi. – Dima vuốt lên tay Cậu bé. – Ở đây không được khóc, nhất là vào ca trực của cô Otskastaia. Nhưng cậu phải đứng yên đấy, cô ấy sắp ra rồi, nếu thấy cậu vẫn đứng, cô ấy sẽ cho cậu ngủ.

Có thể cô Otskastaia sẽ ra ngay, nhưng Cậu bé nằm co quắp trên sàn nhà đã thiếp đi. Nỗi tức giận của cô giáo lên tới đỉnh điểm, trong cơn mơ ngủ Cậu bé còn bị ném vào tường hai lần nữa, nên không chỉ có hai tai mà toàn thân cậu đau ê ẩm. Cậu tru lên, rất khẽ, buồn bã gọi cha mẹ, nhưng cha mẹ cậu không đến, chỉ có Dima đến.

– Thôi đi ngủ đi, cô ấy không ra nữa đâu. Sáng mai, cô ấy sẽ chẳng còn nhớ đến cậu, cô còn vội chạy về nhà.

Hai ngày tiếp theo đến phiên trực của các cô bảo mẫu khác, rất hiền và chu đáo, không phạt ai cả. Nhờ vậy mà Cậu bé nhưđược hồi sinh chút ít, thậm chí còn chơi trò chơi điện tử nữa, thật thú vị! Có thể cậu sẽ quên đi mọi nỗi đau! Nhưng cuộc sống yên ấm và buồn tẻấy không kéo dài được bao lâu. Trên tivi người ta chiếu những trò chơi khác – trò chơi bạo lực – những kẻ khủng bố Chechnya đột nhập vào một bệnh viện nào đó để bắt con tin.

Đến nước này thì lũ trẻ chẳng quan tâm đến máy tính nữa, bắt chước các nhà chính trị, chúng nghĩ ra trò chơi của mình, và dĩ nhiên là tất cả lũ trẻ người Kavkaz sống trong Nhà Thiếu nhi đều biến thành kẻ “khủng bố”, còn những đứa trẻ khác trở thành “lực lượng đặc nhiệm Nga”. Dễ hiểu là Cậu bé bị xếp vào bè lũ số ít “khủng bố”, và để trò chơi thêm phần hấp dẫn, chúng lấy bút dạ đen vẽ râu quai nón, thậm chí cả kính nữa lên mặt Cậu bé. Bất chấp kết quả vụ việc trên tivi diễn ra như thế nào, còn ở đây, nhưđãđược ấn định trước là bọn “khủng bố” sẽ bị bắt, bị đánh rất đau, đau hơn cả đêm đầu tiên nữa, với đủ thứ vật dụng mà bọn trẻ vớ được. Thêm vào đó, đêm ấy lại đúng ca trực của cô Otskastaia, cô thích thú kêu lên: “Ít ra thì thế hệ trẻở đây cũng đang trưởng thành!”.

Ngày hôm sau, tất cả trẻ em ở Nhà Thiếu nhi được vào thành phố xem xiếc. Bọn trẻ được đưa ra ngoài, xếp thành hai hàng đứng chờ xe buýt, và theo quy định bé trai xen kẽ với bé gái. Kể từ hôm mới đến, cô bé Zoia mới chỉ nhìn thấy Cậu bé có một lần, cô bé bước lại gần, kéo cậu sang bên và nói bằng tiếng Chechnya:

– Ai đánh cậu thế? Có chuyện gì vậy?

Đúng lúc ấy, thằng bé lớn tuổi nhất trong đám thiếu niên tên là Vitan bước lại đá một cú vào người Cậu bé, ở đây bọn trẻ vẫn gọi trò đó là “đòn nốc ao”.

– A-a-a! – Zoia rít lên, và như một con mèo rừng, cô bé cào vào mặt kẻ xúc phạm.

Hai đứa trẻ túm vào nhau, trượt trên mặt đường nhựa và cả ba cô bảo mẫu phải khó khăn lắm mới lôi được Zoia ra. Vitan không được đi xem xiếc nữa vì mặt nó nhoe nhoét máu, và ngay trong buổi chiều hôm ấy, không biết bằng cách nào, Zoia cùng với hai bạn gái lớn tuổi khác xuất hiện trong khu vực của các bé trai.

– Đứa nào còn dám đụng đến Cậu bé, em trai tao… – Zoia hé cho chúng thấy một vật bằng kim loại sáng loáng trong tay.

Kể từ hôm đó, Cậu bé không chỉ không bị đánh mà còn được quan tâm hơn, nhưng cuộc sống không phải vì thế mà trở nên tốt đẹp. Không ít lần cậu tìm chỗ vắng, lặng lẽ thút thít khóc, nước mắt đầm đìa, vẻ mặt hốc hác, còn trong ánh mắt là nỗi buồn cùng nỗi sợ hãi trước cuộc sống.

– Cậu đừng khóc, đừng khóc nữa. – Đôi lần Dima an ủi. – Mọi việc sẽ thay đổi nhanh thôi. Cậu thấy không, chúng mình đã được đo áo và quần soóc mới rồi. Tức là sẽ có người mua. Người ta sẽ mua chúng ta. Có thể chúng ta sẽ được đưa đến các nước giàu, thế giới ở đấy khác lắm. Năm ngoái, người ta đã mua bạn Andrei của tớ, cậu ấy gửi ảnh về, được đi học, sướng hơn cả trong phim nữa.

– Thế cái “thế giới khác” ấy ở đâu?

– Đến tối mình sẽ cho cậu xem.

Không có gì là ngạc nhiên khi sống trong cái trường này Cậu bé chỉ mong đêm xuống. Đó là khoảng thời gian cậu có thể quên đi cơn đói triền miên, sự lãnh đạm của con người, thậm chí cả nỗi thù hận, để mơ những giấc mơấm áp, đẹp đẽ, mà sau khi tỉnh dậy, tâm trạng u ám lại càng trở nên nặng nề.

Đêm đó, Cậu bé cố chong mắt lên vì rất muốn nhìn thấy cái “thế giới khác”. Tuy nhiên, dù cậu có cố đến đâu thì màn đêm vẫn chiếm ưu thế, và chắc là cậu đã ngủ quên nếu như Dima không gọi cậu:

– Suỵt! Im lặng! Cô Otskastaia chỉ mới chợp mắt… Đi theo tớ.

Nhưđang bị theo dõi, hai đứa lom khom băng qua bóng đêm, giữa đám trẻ nằm lộn xộn, thở khò khè, mê sảng, rên rỉ, đi qua hành lang ẩm ướt, có phòng vệ sinh, đối diện là phòng trực nơi cô Otskastaia đang ngủ, ở đây rất tối, đến nỗi Cậu bé suýt la lên “Dima!” vì hoảng sợ. Dima là một người bạn thật sự, quay lại nắm tay cậu dẫn theo mình. Dima thuộc lòng khu vực này nên dẫu trời có tối đến đâu cũng không bị lạc.

Nói chung, Dima là một chú bé kỳ lạ, cậu nổi bật lên trong số các bạn cùng trang lứa, học giỏi, cái gì cũng biết, nhất là máy tính, thậm chí ngay cả trong bóng tối cậu cũng tìm ra căn phòng cần tìm. Ánh sáng chói lòa bật lên làm chảy cả nước mắt.

– Đây là phòng học lịch sử và địa lý của các lớp lớn, nhưng tớ hay đến đây. – Dima thì thầm giải thích. – Cậu nhìn này, đây là bản đồ thế giới… Kia là châu Âu, châu Mỹ, còn đây là Canada. Khúc dưới gầy nhom này là nước Úc. Đây chính là thế giới mới, nơi người ta đang sống… Còn bạn Andrei của mình thì ở đây, hình chiếc giày ấy, là nước Ý, không phải là đất nước tốt nhất, nhưng như thiên đường vậy. – Gần như ngộp thở vì hào hứng, Dima tiếp tục: – Cậu hãy làm như mọi người, có thể sẽ gặp may, chúng ta sẽ được đưa đến thế giới thần tiên, chúng ta sẽ có cha mẹ mới.

– “Mới” là thế nào? – Cậu bé tức giận lấy hết sức kêu lên.

– Thì hiện giờ chúng ta không còn cha mẹ, có thể…

– “Không còn” là thế nào? – Cậu bé vặn lại. – Mình có cha, có mẹ, họ hứa sẽ quay lại, có thể họ đã quay lại rồi, đang chờ mình.

– Chờở đâu? Cậu ngốc lắm. – Dima bực bội nói to. – Mình với cậu là trẻ mồ côi, cậu hiểu chưa, mồ côi cả cha lẫn mẹ, chúng ta không còn ai cả.

– Còn! Còn! Còn! – Cậu hét lên, nức nở khóc.

– Im đi, đừng hét lên nữa! Cứ như con nít ấy. – Dima thúc vào người cậu. – Cậu hãy nghe đây… Cậu thấy không, đất nước chúng ta lớn lắm, rất lớn, màu đỏấy…

– Tại sao lại đỏ? – Cậu bé vừa sụt sịt, vừa hỏi lại.

– Đỏ à? Tớ không biết. Nhưng cậu hãy nghe đây, chúng ta đang ở chỗ này, thành phố Volgagrad, còn mình sống ở thành phố Krasnodar, mình có cha mẹ rất hiền, rất đẹp. Họ bị chết trong vụ tai nạn xe hơi. Ở Krasnodar mình còn bà nội, nhưng bàốm nặng nên mình bị đưa đến đây, vào Nhà Thiếu nhi tốt nhất, trại của chúng mình đó. Còn cậu, cậu đến từ thành phố Grozny.

– Từ đâu?! – Cậu bé chồm lại sát tờ bản đồ, thậm chí đưa tay vuốt vuốt cái điểm Dima vừa chỉ. – Gần quá… Tại sao chúng ta phải đi xa thế để đến thế giới khác, nếu nhà của tớở ngay đây!

Cặp mắt đẫm nước của Cậu bé mở to, lấp lánh, có cảm giác như cậu đang mỉm cười và ngộp thở vì hạnh phúc, cậu nắm tay Dima, nói:

– Cậu biết không, chỗ tớ đẹp lắm! Ở đó có “Thế giới trẻ em” rất kỳ lạ, cái gì cũng có, cả cha, cả mẹ tớ nữa. Họ sẽ là cha mẹ cậu, cậu sẽ là anh tớ, anh ruột ấy!

Cậu bé nở nụ cười rất tươi, cậu rất muốn ôm Dima vào lòng, nhưng rồi đột nhiên xịu mặt, né ra.

– Cậu ngốc lắm, chẳng hiểu gì cả, chẳng biết gì về cuộc sống mà cứ tin vào truyện cổ tích của mình… Ở đấy đang có chiến tranh, ở đấy người ta đang bắn giết lẫn nhau, cha mẹ cậu cũng bị giết chết rồi, còn cái “Thế giới trẻ em” mà cậu vẫn lải nhải ấy, chỉ là truyện cổ tích!

– Không phải truyện cổ tích, không phải! – Cậu bé nhăn mặt, hít một hơi dài định nói gì đó nữa, nhưng Dima vội xua tay, và cả hai đều nghe thấy tiếng động ngoài hành lang, Cậu bé hoảng sợ nghĩ ngay đến những con chuột cống.

Tiếng cánh cửa mở ra nghe chói tai, và ngay lập tức trên ngưỡng cửa hiện ra cô giáo Otskastaia, cánh mũi phập phồng nhưđang đánh hơi.

– Cái gì thế này? – Tiếng hét của cô vang khắp tòa nhà, các tấm kính như rung lên.

Dima đứng gần cô hơn, cậu định giải thích gì đó, nhưng chỉ một cú đánh bất ngờ, cậu là người đầu tiên bay xuống gầm bàn, rên rỉ. Còn Cậu bé, không chỉ một lần bị đánh, vội đưa hai tay ôm lấy cái đầu đáng thương của mình, ngồi thụp xuống nghiêng người tránh, nhưng giả vờ như bị đánh rồi lăn vào gầm bàn tìm nơi trúẩn.

Dima rên khe khẽ, từ vết rách trên trán máu tuôn ra đầm đìa, có thể chính nhờ vậy mà cả hai không bị bắt phải đứng trong góc.

Từ dưới gầm bàn, Cậu bé còn cố nhìn lên tờ bản đồ, buồn rầu tìm kiếm cái chấm được gọi là Grozny và truyện cổ tích “Thế giới trẻ em”, rồi cậu đau đớn nhìn khuôn mặt đẫm máu của người bạn, người anh, và hiểu ra rằng, tại sao thế giới của chúng lại được tô màu đỏ.

Sáng hôm sau, không phải là một bữa sáng bình thường mà là một bữa tiệc, và một người đàn bà nào đó, cao ráo, xinh đẹp, mùi nước hoa nồng nặc, đi đi lại lại khắp nhà ăn.

– Cái gì thế này?! Tôi hỏi, cái gì thế này? – Bà dừng lại bên cạnh Dima, hách dịch la hét rất lâu, nhưng không rõ là la hét lũ trẻ hay các cô bảo mẫu.

– Bà chủ đang tức giận. – Lũ trẻ thì thầm, và khi đã rõ là với hình dạng như vậy Dima sẽ không được xem xét thì Cậu bé hiểu ngay người đàn bà đó chính là bà giám đốc – Bà chủ.

Sau bữa sáng, dưới sự kiểm tra kỹ lưỡng của tất cả các cô bảo mẫu, lũ trẻ được thay quần áo mới đẹp đẽ, chỉ có Dima là ngồi trong góc gào khóc thảm thiết. Cậu bé định an ủi bạn, nhưng Dima đẩy nó ra, càng khóc to hơn và thảm thiết hơn.

Khi lũ trẻ bắt đầu xếp hàng, thì Dima với khuôn mặt đỏ bừng, biến dạng chạy lại chỗ Cậu bé, giật mạnh tay nó, hối hả lắp bắp thì thầm:

– Cậu hãy cố gắng lên, cười lên, cười lên ở đó… Cậu sẽ không quên mình chứ? Lúc nào đó, cậu sẽ mang mình theo vào thế giới khác nhé.

Bọn trẻ xếp hàng vào hội trường, các bé gái đã đến trước. Hàng đầu tiên là Bà chủ và một số người lạ mặt, ăn mặc không giống với các nhân viên ở Nhà Thiếu nhi.

Hóa ra là để tổ chức ngày lễ, người ta đã chuẩn bị từ trước. Lũ trẻ lên sân khấu đọc thơ, ca hát, nhảy múa. Cậu bé là lính mới nên không có tiết mục tham gia, chỉ đến lúc sắp kết thúc, đến tiết mục múa vòng tròn cậu mới được đưa lên sân khấu. Sau đó, lũ trẻ lại được xếp thành hàng và các vị khách đi xem từng đứa một, ngắm nghía từ mọi phía và luôn miệng trao đổi với nhau bằng một thứ tiếng khó hiểu nào đó.

Cậu bé thực hiện theo đúng chỉ dẫn của Dima, liên tục cười, nhưng khi những người kia dừng lại khá lâu bên cạnh cậu, thì nụ cười vụt tắt. Cậu kinh hãi nhìn người đàn bà đeo kính, gầy như que củi, khuôn mặt dài ngoằng và người đàn ông mập ú, hai má đỏ au sẽ trở thành cha mẹ của cậu trong cái “thế giới khác”. Nghĩ đến điều đó, cậu cảm thấy đau khổ và khó chịu đến mức khóc rống lên, nhưng cũng chẳng giải quyết được gì, việc lựa chọn đã xong, chỉ có cậu và hai bé gái khác là “gặp may”.

Sau đó là một bữa trưa chưa từng có, đến nỗi tất cả bọn trẻ và cả Dima phải liếc nhìn về phía cậu một cách lạnh lùng.

Sau bữa trưa là giờ nghỉ, nhưng Cậu bé được đưa đến một căn phòng rộng, đẹp đẽ. Bà chủ ngồi chễm chệ trên chiếc ghế bành to và những người từ thế giới khác lại xúm xít quanh cậu. Một trong số những người đó, hình như là bác sĩ, suốt thời gian đó lúc nào cũng mỉm cười nhã nhặn, trao đổi với họ điều gì đó và nhẹ nhàng cởi hết quần áo của cậu ra.

– Người ta nói, nó đã được cắt bao quy đầu! – Đột nhiên một thanh niên nào đó mà Cậu bé không để ý bỗng nói to bằng tiếng Nga.

– Lạy Chúa tôi! – Bà chủ thốt lên, thậm chí nhổm dậy.

– Không sao, không sao, họ lại càng thích. – Với một thái độ khác hẳn, người thanh niên nói.

Trong lúc đó, bác sĩ kiểm tra miệng, tai, mắt, thậm chí cả mông Cậu bé, rồi đặt cái dụng cụ gì đó lạnh ngắt lên bụng và lưng cậu.

– Họ hài lòng, họ rất hài lòng! – Người thanh niên phấn khích xoa tay.

– Không hiểu sao họ lại kiểm tra kỹ thế. – Bà chủ lạnh lùng nói.

– Nuôi dưỡng, cần phải nuôi dưỡng tốt hơn. – Người thanh niên nói. – Tất cả đều ốm yếu, cứ như ho lao vậy.

– Lấy cái gì mà nuôi?! Chính phủ cấp cái gì, chúng tôi nuôi bằng cái đó, mà cấp như thế nào, anh biết rồi đấy.

– Phải, cuộc sống cũng chẳng dễ dàng, nhưng đây là làm ăn mà.

– Làm ăn cái gì! – Bà chủ bật lên. – Trước kia, mỗi lần lấy năm, thậm chí mười đứa.

– Nhưng thằng bé này, rõ ràng là lính mới, thậm chí da còn chưa đổi màu.

– Phải, mới đấy.

– Khẽ thôi! Chúng ta gặp may rồi. Họ bảo, thằng bé này “thuần giống”. Ngay cả tật nói ngọng cũng là do dòng giống. Những người Mỹ này là triệu phú, họ rất biết kinh doanh, lại rất hào phóng.

Trong thời gian đó, giữa những người của “thế giới khác” – họ có ba người, bắt đầu diễn ra cuộc trao đổi rất sôi nổi, thậm chí họ còn cười nữa, người đàn bà xương xẩu, có khuôn mặt dài ngoằng nói nhiều nhất. Chính bà đã ngồi xổm xuống, mỉm cười dịu dàng, vụng về mặc quần áo lại cho Cậu bé, làm như cậu không biết mặc, còn người đàn ông mập ú, mặt đỏ luôn nghe theo bà ta, mỉm cười nhã nhặn, rồi nhìn vào mặt cậu nói cái gì đó, cuối cùng thì cả hai đều lạnh lùng nhưng cũng dịu dàng hôn lên má cậu.

Sau đó, hoàn toàn bất ngờ, đích thân Bà chủ cầm tay Cậu bé dắt ra khỏi những bức tường cao của trại, đến tận chiếc xe con rất đẹp, chở cậu đi đâu đó, đến một cửa hàng rực rỡ sắc màu – chính là “Thế giới trẻ em”, rồi những người kia mua cho cậu quần áo mới, dẫn đến cửa hàng đồ chơi, dù cậu không đòi hỏi gì cả, nhưng họ vẫn mua rất nhiều đồ chơi, thậm chí cậu cũng không nhớ hết.

Sau đó, họ đưa cậu đến một tòa nhà lớn nào đó, ở đây, tất cả mọi người đều phải nghiêng mình trước họ. Hai cánh cửa mở ra, có một cái buồng như phi thuyền đưa họ lao vút lên, trên đó là các căn phòng, đồ đạc sang trọng như trong phim. Tại đây, không phải những người từ “thế giới khác”, mà chính là những người hầu, đông vô kể, lại cởi quần áo cậu ra, đưa cậu vào phòng tắm rất rộng, kỳ cọ cậu rất lâu trong đủ loại nước tắm đầy bọt, có mùi hương dễ chịu. Tắm xong, vì quần áo mới mua nhiều đến mức họ không biết chọn cái nào để mặc cho cậu trước.

Rồi họ lại vào trong căn buồng phi thuyền, chỉ có điều bây giờ nó đáp xuống rất nhẹ nhàng. Bà chủ và người thanh niên nói bằng đủ thứ tiếng, đang chờ họ. Rồi họ vào một gian phòng rộng, bàn ghế, đồ ăn, rất nhiều đồ ngọt. Cậu rất muốn ăn, rất muốn, đói con mắt, nhưng cậu không thể cho thứ gì vào miệng được, có cái gì đó như bị nứt vỡ từ bên trong. Ngồi bên cậu là những người từ “thế giới khác”, bà cô già, ông bác và nhiều người nữa đều vuốt ve cậu, hôn hít cậu đến mức cậu cảm thấy mệt nhoài vì những cử chỉ âu yếm bất ngờấy, rồi cậu thiếp đi trong vòng tay ôm ấp của họ và rơi vào một thế giới hiện thực kỳ lạ khác. Cậu đang ở trong “Thế giới trẻ em” của quê hương mình, cái thế giới này hoàn toàn không phải như trong truyện cổ tích rực rỡ sắc màu, mà tất cả đều bị phá hủy, đổ vỡ, bẩn thỉu, u ám, nghe cả tiếng bom rơi đạn réo. Nhưng từ phía xa, có một thế giới cổ tích sắc màu sặc sỡ hiện ra rất rõ, mỗi lúc một gần hơn, chỉ có điều, những con người trong thế giới ấy hoàn toàn xa lạ, không phải là những người thân quen, dù họ cũng mỉm cuời thân ái… Khi mở mắt ra, cậu thấy mình đang nằm trên tay người đàn ông má đỏ hây hây, đúng là cái má căng mọng, láng bóng. Trong cơn mơ ngủ, cậu cố nhìn vào mắt người đàn ông, nhưng cậu không thấy gì cả ngoài đôi mắt kính bằng thủy tinh.

Trong các căn phòng đó, Cậu bé lại được những người hầu thay bộ đồng phục đẹp nhất của Nhà Thiếu nhi, được đặt vào trong vòng tay ấm áp của Bà chủ, rồi lại thiếp đi trong xe, và khi người ta đánh thức cậu dậy thì cậu đã ở trong những bức tường u tối của trại trẻ mồ côi. Bà chủ ôm chặt cậu vào cái hông núc ních của mình, đưa cậu quay về với khu trại của các bé trai, tất cả đã ngủ, giúp cậu lên giường, vuốt vuốt đầu cậu và ra lệnh với cô bảo mẫu hiền nhất:

– Để mắt đến nó đấy.

Cậu bé không còn nhớ gì nữa, cậu rất mệt, cậu chỉ muốn ngủ… Và cậu lại mơ thấy giấc mơ kỳ lạ: Cậu đang ở trong “Thế giới trẻ em” đổ nát và bẩn thỉu của quê hương, còn cách đó không xa là một thế giới cổ tích “khác”. Cậu không biết phải làm gì? Nhưng ở lại thì rất đáng sợ, cậu đã nghe thấy, cảm thấy rất rõ, không phải một mà rất nhiều chuột cống đang bò lại gần cậu, chúng không chỉ hít hít đánh hơi mà còn chạm cả vào người cậu nữa, thậm chí còn bắt đầu gặm chân, gặm tay cậu. Cậu muốn nhảy dựng lên, bỏ chạy vào cái thế giới “khác”. Cậu lấy hết sức bật dậy, bước một bước, rồi bước nữa, sắp bước vào cái thế giới cổ tích sặc sỡ sắc màu “khác”. Đột nhiên, nhưđể chào mừng cậu, những tràng pháo hoa, những đám lửa bỗng bùng lên ngay dưới chân cậu, giữa hai tay cậu. Cậu nhảy dựng lên, la thất thanh, chạy khắp khu trại, va vào giường tủ, nhưng lửa vẫn cứ cháy, vẫn cứ thiêu đốt cậu. Cuối cùng, ánh sáng bật lên, cậu nằm trong vòng tay cô bảo mẫu, tất cả vẫn đang ngủ say, chỉ có Dima là đang ở bên cậu với cái đầu bị băng. Vừa nhìn thấy hai tay và hai chân của Cậu bé bị bỏng nặng, Dima liền hét lên:

– Bọn súc sinh đê tiện! Chúng nó sẽ phải chết rũ trong cái thế giới màu đỏ này, trong máu và lửa!

Cô bảo mẫu bế Cậu bé đang gào khóc vào phòng mình, đặt cậu lên giường, vội vàng gọi đi đâu đó. Lát sau, một người đàn ông cao lớn mặc áo choàng trắng xuất hiện.

– Sự độc ác của bọn trẻ bây giờ còn khủng khiếp hơn cả người lớn nữa. – Người đàn ông xem qua chân tay Cậu bé, thốt lên. – “Xe đạp đôi” là tiếng lóng khi chúng nhét nhiều que diêm vào giữa các ngón tay và ngón chân rồi châm lửa cùng một lúc… Thông thường trò này chỉ xảy ra trong nhà tù, họa hằn trong trại lính. Nhưng ở đây, giữa những đứa trẻ, từ đâu mà chúng biết được cái trò này?

– Trong trại. – Cô bảo mẫu khẽ nói.

– Thằng bé cần phải được điều trị nội trú, thậm chí phải giải phẫu nữa. Da mỏng rất dễ bị tổn thương.

– Nhưng không được đưa trẻ em ra khỏi đây.

– Hừ, vậy là chỉ có Tòa án mới cho phép bán? – Người đàn ông cười khẩy.

– Đúng vậy. – Cô bảo mẫu khẽ đáp. – Lại đúng hôm nay vừa mới kiểm tra xong.

– Tôi biết rồi.

– Chỉ có mình nó được chọn.

– Hóa ra là vậy, bọn trẻ ghen tức, ganh tị… Sống mãi ở đây, đứa nào cũng muốn đi… Nhưng thằng bé này phải được điều trị đến nơi đến chốn, nếu cần, cô có thể đưa các cháu đến điều trịở trạm quân y chúng tôi.

– Vâng, vâng, dĩ nhiên rồi… Nhưng tôi cần phải xin phép lãnh đạo. Tôi sợ, không dám gọi điện thoại nữa, không biết chuyện gì sẽ xảy ra?

– Lạy chúa, tạm thời cô đừng gọi. – Bác sĩ đề nghị. – Bây giờ chúng tôi sẽ tạm băng bó vết thương cho nó, sau đó cô hãy gọi cho Bà chủ của mình.

Lát sau người ta mang chiếc cáng di động đến. Cậu bé được quấn trong chăn, đưa ra hành lang, băng qua khu rừng tối om, đến cái cổng, rồi lại rừng, tòa nhà khác, nồng nặc mùi thuốc. Cậu được tiêm, không chỉ một mũi, cậu khóc lóc, và trong khi người ta xử lý lại vết thương, cậu thiếp đi với hai hàng nước mắt trên mi.

Hôm sau, lúc gần trưa, cậu bị đánh thức dậy vì những tiếng động, bác sĩ và Bà chủ đang to tiếng với nhau, tranh cãi gay gắt.

– Thấy chưa, chị đã làm nó thức dậy rồi. Mời chị ra khỏi trạm quân y của chúng tôi, người lạ không được vào đây. – Người đàn ông lên giọng.

Cậu bé nhắm mắt lại vì quá sợ bà giám đốc, cố làm nhưđã ngủ lại. Một sự im lặng kéo dài, rất lâu sau cậu không dám mở mắt ra cho đến khi có ai đó chạm vào vai cậu.

– Dậy đi. – Khuôn mặt rất hiền của bác sĩ. – Chúng ta đã mời bác sĩ trưởng chuyên về bỏng đến đây. Mà cũng đến giờ ăn trưa rồi.

Lúc xử lý lại vết thương rất đau, sau đó Cậu bé được bón cho ăn như sáu bà lão nằm cùng phòng. Có thể Cậu bé chưa biết, nhưng trong cánh rừng này có hai đơn vị được ngăn cách bởi một hàng rào, một bên là Nhà Thiếu nhi, bên kia là Nhà dưỡng lão. Ở đó Cậu bé cảm thấy rất dễ chịu nếu như không tính đến những cuộc tranh cãi của các bà lão về số phận của chính cậu. Họ khẳng định, tốt nhất là cậu nên sang Hoa Kỳ, số khác lại bác bỏ thẳng thừng. Không biết vụ việc sẽ kết thúc ra sao, nhưng hai ngày sau, tất cả đều có mặt, cả những người “khác” nữa, chỉ có điều bây giờ họ không mỉm cười mà tỏ ra rất lo lắng, nhưng chẳng ai đụng tay vào người cậu.

– Chúng tôi đã có quyết định của Tòa án, thằng bé này là người của họ. – Bà chủ nhấn mạnh, các mạch máu trên cổ nổi lên.

– Tôi biết Tòa án của các vị, “nhân đạo nhất thế giới”! – Bác sĩ tức giận hét lên. – Bán cả đất nước, bây giờ lại bán cả trẻ con nữa, đúng là sự diệt chủng! Diệt đến tận gốc rễ! Cút đi! Cút ngay ra khỏi trạm quân y của chúng tôi! Cút ngay ra khỏi lãnh thổ của chúng tôi!

– Cút đi! Cút đi! – Các bà già ốm yếu cũng đồng thanh hét lên.

Vài ngày sau, mọi chuyện vẫn bình thường. Cậu bé đã bắt đầu bình phục. Mặc dù cậu vẫn chưa được phép đi lại, nhưng có thể nhún nhảy thoải mái trên giường và bắt đầu cảm thấy buồn chán bên cạnh các bà già, cậu lại muốn quay về trại, ít ra là thế. Nếu như ban ngày cậu có thể chịu đựng được, thì đến chiều tối, các bà già kéo nhau đi đâu hết, một nỗi buồn chán ghê gớm lại ập đến, thêm vào đó, hầu như chiều nào từ hành lang cũng vọng lại những âm thanh gì đó, quen thuộc và buồn đến não lòng như bóp nghẹt lấy con tim. Không chỉ một buổi chiều, cậu cố lắng nghe âm điệu đó và không hiểu tại sao, nó lại gợi cho cậu nhớ đến thành phố quê hương, đến “Thế giới trẻ em” của mình, nhớ đến cha mẹ, cậu ứa nước mắt. Một lần, giai điệu quen thuộc ấy choáng ngợp tâm hồn đến mức cậu không thể chịu đựng hơn được nữa, liền tụt khỏi giường, bò ra khỏi phòng, theo hành lang lát ván, trên tường treo những bức tranh, đến một gian phòng rộng chỉ toàn những người già đang ngồi. Và cậu đã nhìn thấy gì?! Trên cái sân khấu nhỏ, một người đàn bà đã có tuổi với cây vĩ cầm trên tay.

– Bà Uchital! Bà Uchital! – Cậu bé lấy hết sức kêu lên.

Đêm ấy, bà Uchital ngồi mãi bên cậu cho đến khi cậu ngủ. Sáng hôm sau, khi tỉnh dậy, cậu đã thấy bà mỉm cười bên cạnh. Cậu sung sướng đến mức như chưa bao giờ được như thế. Hai ngày sau, cậu không chỉ được phép đi lại mà còn được đi dép nữa. Mọi việc tưởng chừng nhưđang diễn ra rất tốt đẹp thì lại xảy ra một vụầm ĩ khác, chỉ có điều Cậu bé không nhìn thấy. Một vụ bài xích đã nổ ra ngay tại lối vào khu Nhà dưỡng lão, với sự can thiệp của nhân viên Tòa án và công an. Tất cả ông già, bà lão phải đứng xếp hàng vào tường để kiểm tra, “những kẻ ngoại lai” không được phép vào phòng mình nữa.

Cũng trong ngày hôm đó, một cuộc “hội chẩn” mở rộng đã diễn ra ngay bên giường Cậu bé với sự tham gia của tất cả nhân viên và cư dân của Nhà dưỡng lão. Mọi ánh mắt đều hướng về cậu.

– Cháu muốn thế nào? – Cuối cùng vị bác sĩ khẽ hỏi. – Quay về chỗ cũ “để an lạc” hay đi đâu nữa?

– Bà Uchital! Bà ơi! – Cậu bé nép vào lòng bà lão. – Cháu muốn về nhà! Về nhà! Về “Thế giới trẻ em”, chỗ bà dạy cháu học ấy.

– Ở đấy đang có chiến tranh, cháu ạ.

– Nhưng cha mẹ cháu đang đợi cháu ở đấy. Nhà cháu, “Thế giới trẻ em” của cháu.

– Nhà của bà cũng ở đấy. – Bà Uchital thì thầm.

– Phải, phải, nhà của chúng ta ở đấy. – Cậu bé buồn bã thốt lên, ôm hôn đôi bàn tay nhăn nheo của bà.

Ngay chiều hôm ấy, bác sĩ mang giày và mặc cho cậu bộ quần áo ấm mới, rồi ngay trong đêm, ông đưa họ ra ga. Họ đi bằng tàu hỏa, sau đó chuyển sang chuyến tàu khác, rồi chuyển sang xe buýt. Hóa ra, chặng đường không gần như vẽ trên bản đồ, dù vậy, sau hai ngày đêm, họ cũng đến được thành phố Grozny vào lúc chiều tối. Thành phố không còn giống như trong truyện cổ tích, không còn thân thuộc như xưa. Mọi thứ đã bị phá hủy, đầy rác và bẩn thỉu, dân chúng thưa thớt, râu ria lởm chởm, dáng vẻảm đạm, căng thẳng. Đang là giữa mùa thu, mưa lắc rắc, còn họ – bà Uchital với chiếc ba lô trên lưng, một bên tay là chiếc hộp đàn vĩ cầm, tay kia dắt Cậu bé – cứ đứng mãi trên cái gọi là nhà ga mà chẳng hiểu gì cả, như thể đang ở trong một thành phố xa lạ, mọi thứ hoàn toàn khác hẳn.

Chỉ có màn đêm đang đến gần là buộc bà Uchital phải bước tiếp. Xung quanh tối đen, trạm kiểm soát, những bóng người cau có, vũ khí lăm lăm trong tay. Còn đường phố, không thể nhận ra nữa, chỉ còn lại chút ký ức mờ nhạt. Nhưng họ vẫn tới được phố Một tháng năm. Ngôi nhà của bà lão đã bị phá hủy hoàn toàn, những ngôi nhà bên cạnh cũng vậy, bên trong các ô cửa sổ vỡ toang chỉ thấy bóng đêm và nỗi khiếp sợ.

– Đến nhà cháu. – Không hiểu sao, Cậu bé lại rầu rĩ thốt lên. – Cha mẹ cháu đang đợi cháu ở đấy.

Chẳng còn sự lựa chọn nào khác. Họ lần ra được đến bờ sông Sunzha thì trời đã tối hẳn. Ở đây, cũng một bức tranh tương tự, “Thế giới trẻ em” từ lâu đã không còn, thậm chí Cậu bé phải nắm tay bà lão kéo đi trong bóng tối.

– Nhà cháu đây. – Họ bước vào cái cổng vòm tối om, ẩm ướt, gió lùa hun hút. – Lối vào đây ạ. – Có cảm giác Cậu bé định hướng bằng mũi vậy.

Lối vào, mặc dù đã bị phá hủy, nhưng vẫn có thể đi lại được, và có thể thấy, vẫn có người qua lại, thậm chí còn mang hơi ấm của căn nhà. Cậu bé nhanh nhẹn chạy lên tầng hai. Trước cánh cửa bằng sắt đóng kín có vắt miếng giẻướt và dấu chân mới.

– Cha ơi, mẹơi! Con về rồi! Mở cửa ra! – Cậu bé đập vào cánh cửa.

Cửa mở ra.

– Dì Roza? – Cậu bé ngạc nhiên.

– Kjant, dasho Kjant[9]. – Người phụ nữ quỳ xuống, ôm chầm lấy Cậu bé, nức nở khóc.

 

[1] Kant: Tiếng Chechnya có nghĩa là cậu bé.

[2] Lời chào bằng tiếng dân tộc của người theo đạo Hồi.

[3] Đàn balalaika: Một loại nhạc cụ dân tộc của người Nga, bầu đàn hình tam giác và có ba dây.

[4] Tiếng Chechnya có nghĩa là “Ai đấy”.

[5] Nguyên văn bằng tiếng Chechnya.

[6] Tiếng Chechnya có nghĩa là “Thánh thần ơi”.

[7] Tiếng Nga: Tên Liubov, gọi thân mật là Liuba, Liubushka có nghĩa là Tình yêu.

[8] Sasha: Cách gọi thân mật Aleksandr Viatseslavovich.

[9] Tiếng Chechnya có nghĩa là “Cậu bé, cậu bé yêu quý”.

 

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s