Thế Giới Trẻ Em – Chương 4

Afanasieva Anastasya Tikhonova, hay như Cậu bé thường gọi là bà Uchital, sinh năm 1925. Cha của bà là ông Gnedin Tikhon Ivanovich, một nhà quý tộc dòng dõi lâu đời, rất giàu có và nổi tiếng, từng là sĩ quan Nga hoàng, có một thái ấp lớn ở vùng Kaluga. Ông trải qua thời kỳ khó khăn khi Sa hoàng bị truất ngôi, chống lại cuộc Cách mạng Tháng Hai, và đến khi cuộc Cách mạng Tháng Mười bùng nổ thì ông không thể chịu đựng hơn được nữa. Và lẽ đương nhiên làông trở thành một trong số những người chỉ huy của đội quân Bạch vệ. Ông đã chiến đấu đến cùng, và sau khi bại trận ở mặt trận miền Nam nước Nga, ông đã không bỏ chạy ra nước ngoài qua đường biển như nhiều sĩ quan Bạch vệ khác. Với sự giúp đỡ của một số người trung thành, ông đã bí mật đi về vùng Ural, sau đó ông chuyển sang vùng Viễn Đông, thực hiện một sứ mệnh quan trọng nào đó. Ở đây, ông lại bị bại trận và bị thương nặng, những người cùng chí hướng đã chuyển ông đến thành phố Cáp Nhĩ Tân của Trung Quốc.

the-gioi-tre-em

 

Nhưng sống ở Cáp Nhĩ Tân là điều ông Gnedin không mong muốn, bởi vậy nên khi vừa mới bình phục, ông đã tìm đường sang Paris. Đó là châu Âu, nơi ông đã từng đến nhiều lần, lại thông thạo tiếng Pháp, và điều quan trọng nhất, theo cảm nghĩ của ông, là từ đó ông có thể dễ dàng quay trở về nước Nga, nơi vẫn còn gia đình ông – vợ và con trai, con gái.

Mãi đến năm 1925, sau bảy năm xa cách, đóng vai một người thực hiện chính sách kinh tế mới, ông Gnedin mới có thể quay trở về mảnh đất nơi đã từng là thái ấp của ông. Chẳng còn lại gì nữa, tất cả đã bị phá hủy đến mức không thể nhận ra, nhưng nhờ những người tốt bụng chỉ dẫn, ông đã tìm được gia đình mình, không phải ở Kaluga mà ở Orla. Rất có thể ông đã đưa được gia đình mình rời nước Nga, mọi việc đã được chuẩn bị xong xuôi, nhưng một trục trặc đã xảy ra – trên ga Moskva, ông gặp lại một nông nô cũ của gia đình. Lẽ ra phải hạ mình xuống, thì ông Gnedin lại không làm được:

– Anh là một kẻ đầy tớ thì bây giờ vẫn vậy. – Ông Gnedin nói thẳng vào mặt người chiến sĩ Hồng quân râu ria xồm xoàm.

Ngay lập tức ông Gnedin bị bắt giam. Thời điểm đó, bà Ekaterina Matveevna vợ ông đang có mang, hai ngày liền cùng với lũ trẻ lang thang khắp sân ga để nắm tin tức về người chồng. Chỉ đến ngày thứ ba, thương mấy đứa con bị đói, bà đành từ bỏ ý định đó và tìm cách khác: Trước đây, họ đã từng có nhiều bà con và bạn bè ở Moskva.

Thời đó, nhiều dinh cơ bị hư hỏng, một số khác bị những người nhếch nhác chiếm dụng. Tại một khu dân cư rất chật chội, bà tìm được người quen cũ vốn là một bác sĩ nổi tiếng ở Moskva. Mọi người lại phải chen chúc hơn để cưu mang gia đình Gnedin. Sau khi hiểu rõ tình hình, người bác sĩ già khuyên bà nên từ bỏ cái họ quý tộc của gia đình. Và thế là khi Anastasya được sinh ra, cái họ quý tộc lâu đời không còn nữa, để cho tiện, mọi người lấy họ của ông bác sĩ già và chỉ giữ lại cái tên cha.

Xuất thân từ tầng lớp quý tộc, nên mẹ của Anastasya chưa bao giờ phải lâm vào hoàn cảnh túng thiếu, thậm chí ngay cả trong thời kỳ nội chiến. Nhờ trước đây bà đối xử nhân hậu và hào phóng với mọi người nên những người nông dân ở thái ấp cũ cũng giúp lại bà. Nhưng bây giờ Moskva, mọi thứ bị phá hủy, nạn đói đang hoành hành, ông bác sĩ già cố cưu mang họ trong khả năng có thể, nhưng đây là thời kỳ khó khăn của chính quyền Xô viết. Khi Anastasya vừa được nửa tuổi, bà Ekaterina Matveevna giao cho anh chị nó trông nom rồi lần đầu tiên trong đời, tự mình đi kiếm việc làm.

Bà Ekaterina có hai thế mạnh: thông thạo ba ngoại ngữ và là một nghệ sĩ dương cầm điêu luyện. Nhờ sự giới thiệu của ông bác sĩ già, người ta đề nghị bà làm bảo mẫu cho một gia đình danh giá nguyên là công chức ngoại giao. Mặc dù thu nhập cũng khá, nhưng bà Ekaterina không thể chấp nhận vai trò cô bảo mẫu, mà nói theo cách hiện thời là người giúp việc.

Hai năm đầu, bà Ekaterina chuyển hết từ việc này sang việc nọ: nhân viên đưa thư, chuyên viên cho lãnh sự quán nước ngoài, trợ lý cho một sếp lớn, thậm chí làm thủ quỹ cho đến khi tình cờ nhìn thấy tờ thông báo dán ở bến xe: “Tuyển dụng nhạc công chuyên nghiệp cho lớp đào tạo diễn viên”.

Lẽ ra bà Ekaterina có thể trụ lại ở đây lâu, nhưng ông bác sĩ già khuyên:

– Con ơi, con phải đi bước nữa chứ, cứ như thế, đàn ông không dám đến gần đâu, phí cả xuân sắc.

Khi cô bé Anastasya lên bốn thì trong gia đình xuất hiện một người đàn ông mới. Ông dượng là một trí thức hiền lành, cũng trong giới âm nhạc. Có vẻ như cuộc sống đã bắt đầu ổn định, nhưng tình hình đất nước lại càng trở nên khó khăn hơn, bất chấp những câu khẩu hiệu đao to búa lớn, và điều đó ảnh hưởng đến cuộc sống của gia đình họ.

Ông bác sĩ già là người lâm bệnh đầu tiên, chắc là lây nhiễm một thứ vi rút nào đó trong bệnh viện và qua đời rất nhanh. Sau đó đến Anastasya, rồi cô chị. Anastasya may mắn vượt qua được căn bệnh khi đang học lớp hai văn hóa và học xong lớp ba trường nhạc, chuyên ngành violon. Thầy dạy trực tiếp của cô chính là ông dượng.

Năm 1941, ngay trước chiến tranh, lúc đó Anastasya Afanasieva vừa tròn mười lăm tuổi, học xong trường nhạc, nhưng để phù hợp với hoàn cảnh, cô đã tham dự kỳ thi tốt nghiệp phổ thông trung học với tư cách thí sinh tự do. Công việc tiếp theo, chẳng có gì phải bàn cãi, cô sẽ thi vào Học viện Âm nhạc, nhưng khi đó, ông dượng nói nhỏ với cô:

– Đất nước này, âm nhạc không cần nhiều lắm đâu, hành khúc và quốc ca là chính… Tốt nhất là con nên thi vào ngành gì đó có thể kiếm được miếng bánh mì nuôi sống bản thân.

Đúng như vậy. Mẹ Anastasya suy tính, chiến tranh sắp nổ ra, mặc dù mặt trận còn khá xa nhưng không nên mạo hiểm số phận. Bà hướng con gái thi vào trường gần nhất, ngay bên kia đường, còn chuyên ngành nào thì để con gái tự chọn. Không hiểu sao, Anastasya lại chọn ngành Vật lý, mà cụ thể lại là Vật lý thiên văn, một ngành rất lãng mạn.

Mùa thu, khi mặt trận tiến tới gần Moskva, Anastasya cũng như anh trai của mình đều tình nguyện tham gia vào quân đội. Nhưng vì chưa đủ tuổi, nên đơn tình nguyện của Anastasya không được chấp nhận, còn anh trai lên đường ra mặt trận. Chẳng bao lâu sau, gia đình nhận được hai bức thư của anh, bức thứ ba là giấy báo tử.

Đến mùa thi cuối năm thứ nhất, khoa Vật lý còn lại rất ít sinh viên và giáo viên. Mặt trận rất cần nhân viên y tế, Anastasya định bỏ học tham gia các lớp bồi dưỡng y tế, nhưng đơn của cô rơi vào tay ông trưởng khoa còn trẻ mới về nhậm chức.

– Em còn trẻ và chưa hiểu được sứ mệnh lịch sử của chúng ta. – Trưởng khoa Stoletov nhã nhặn khuyên cô. – Chúng ta sẽ chiến thắng, nhất định sẽ chiến thắng vì chúng ta có đồng chí Stalin lãnh đạo. Và ngày mai sẽ ra sao? Khi đó toàn bộ nhân sự của đất nước đều là nhân viên y tế, lúc đó em sẽ chữa chạy cho ai? Chúng ta cần phải nhìn về phía trước, nhìn về tương lai. Mà tương lai của chúng ta sẽ là hàng không, là vũ trụ. Chỉ có chúng ta, những công dân Xô viết mới là người mở đường bay lên mặt trăng và các vì sao… Anastasya, em có một tương lai rộng mở, tất cả mọi khoa học đang nằm trong tay chúng ta. Em đã ngắm nhìn bầu trời sao qua kính thiên văn?! Thật là kỳ diệu! Đấy là trận tuyến của chúng ta, là cuộc tấn công của chúng ta! Dù cuộc chiến tranh có gian khổ đến đâu, Đảng vẫn luôn hướng đến tương lai, và chúng ta cần phải đi theo.

Bằng những lời lẽ rất logic, ngày nào Stoletov cũng mời cô sinh viên trẻ vào phòng để thuyết phục. Sau khi tuôn ra câu khẩu hiệu cuồng nhiệt tiếp theo, Stoletov vỗ nhẹ vào má cô rồi dịu dàng nói:

– Em còn trẻ lắm!

Sau đó, bao giờ trưởng khoa cũng mở chiếc tủ nặng bằng gỗ ra, trịnh trọng rót nước và một loại rượu trong suốt vào hai chiếc cốc, nhanh chóng uống cạn, rồi thở phì phì, nhấm nháp đồ nhắm và mời Anastasya cùng thưởng thức. Bao giờ cô cũng từ chối. Đến đó thì cuộc đàm thoại giữa họ kết thúc. Trưởng khoa bắt đầu hút một điếu thuốc dài chẳng thèm bận tâm đến sự có mặt của cô ở đấy, rồi bước ra hành lang, chắp tay sau lưng, chậm rãi đi tới đi lui, ngắm nhìn chân dung các nhà bác học treo trên tường, có vẻ nhưđang mơ tưởng đến một ngày nào đó chân dung của mình cũng sẽ được treo lên đấy.

Tình hình đó kéo dài không lâu. Trận tuyến đã tiến đến sát Moskva. Trong thành phố bắt đầu xáo động, thậm chí lo sợ nữa. Một mùa đông khắc nghiệt bắt đầu, không có nhiên liệu, việc học tập bị đình trệ, trường đại học vắng tanh, còn trưởng khoa Stoletov thì bảo:

– Anastasya, ít ra thì em cứ đến trường, suốt cả ngày chỉ có mình tôi, buồn chết đi được.

Cuộn kín trong chiếc áo khoác lông của mẹ, ngày nào Anastasya cũng chạy đến trường vì nhà cô ở gần đó.

– Ôi, ôi, tôi mừng quá, mừng quá, dù chỉ còn lại một nữ sinh viên. – Stoletov thích thú đón cô, trịnh trọng mời cô vào phòng riêng, càng ngày càng tỏ ra hào phóng, săn đón cô như với một đứa trẻ. – Cần phải uống. Nào, mạnh dạn lên, rượu này đã pha rồi, thuốc chữa cảm cúm đấy, nó sẽ giúp chúng ta ấm lên, sẽ cảm thấy dễ chịu hơn…Đấy, mồi đây, nhấm nháp một chút đi.

Những cuộc gặp gỡ như thế trở nên thường xuyên hơn, đôi khi Anastasya bắt gặp mình với ý nghĩ cô sẽ cảm thấy cô đơn và buồn chán vào những ngày nghỉ. Sau đó, một cuộc mít tinh chung của tất cả các trường đại học được tổ chức để tiễn những người tình nguyện ra mặt trận. Ở đó, ông trưởng khoa có một bài diễn văn hùng hồn, lôi cuốn và xúc động đến mức mọi người như phát cuồng lên, vỗ tay rất lâu bất chấp thời tiết giá lạnh, còn Anastasya thậm chí bật khóc nức nở. Đối với cô, thầy trưởng khoa đã trở nên gần gũi và đáng yêu vô cùng.

Điều đó chẳng có gì phải ngạc nhiên. Arkadi Iakovlevich Stoletov là một người đàn ông vóc dáng cao ráo, cân đối, oai vệ, mái tóc dày, bồng bềnh màu hạt dẻ, bộ râu quai nón cầu kỳ, được chăm chút cẩn thận – làm say đắm không ít phụ nữ. Theo gương cha, Stoletov nhanh chóng bảo vệ luận án, trở thành trưởng khoa và mọi việc đang có vẻ diễn biến tốt đẹp bất kể chiến tranh đang nổ ra. Nhưng chiến tranh đã đến gần, ngay sát Moskva, cứ tưởng Stoletov được giữ lại trường, nhưng đột nhiên anh ta nhận được giấy triệu tập. Giá có ai nhìn thấy trạng thái của Stoletov khi nhận giấy: co rúm người lại, nhũn ra, rồi Stoletov cạo sạch bộ râu quai nón, tóc cắt cao theo đúng quy định, khoác vào người bộ quân phục, đi đôi ủng bốc-can cao.

– Em hiểu không. – Thậm chí chỉ với cô sinh viên trẻ Anastasya, Stoletov cũng cố làm ra vẻ quan trọng. – Tôi là một nhà khoa học, phó tiến sĩ trẻ nhất, chưa tới ba mươi, nếu không có chiến tranh tôi đã bảo vệ xong luận án tiến sĩ… Thế mà tôi lại bị đưa ra mặt trận! Bao nhiêu năm đèn sách! Nhà nước đã đầu tư bao nhiêu tiền của cho tôi, vậy mà bây giờ tôi phải đứng trước mũi tên hòn đạn! Ai sẽ làm tăng khả năng phòng thủ của đất nước? Ở đây, nơi hậu phương cũng chẳng dễ dàng. Mà hậu phương gì cơ chứ, suốt ngày bị ném bom.

Trong những ngày đó, Stoletov uống khá nhiều và khóc thầm vì rất sợ chết. Anastasya cảm thấy thương hại cho con người cao lớn đó, trở nên gần gũi anh ta hơn vì nhớ đến người anh trai đã hy sinh của mình. Cô khóc cùng trưởng khoa, thậm chí muốn ôm hôn anh ta như người thân, động viên, an ủi, nhưng có cái gìđóđã ngăn cô lại. Để đổi lại, cô đề nghị:

– Em chơi violon cho thầy nghe nhé.

– Cái gì? – Stoletov tròn mắt ngạc nhiên. – Violon nào?

Anastasya vội chạy về nhà.

– Không nên mang cây đàn violon ra ngoài giá lạnh. – Ông dượng năn nỉ.

– Con đã hứa với các chiến sĩ tình nguyện rồi. – Lý lẽ rất xác đáng.

 

– Em đúng là thiên tài, một nghệ sĩ điêu luyện! – Stoletov thán phục thốt lên sau khi nghe cô chơi đàn. – Làm sao tôi có thể chia tay với em được?! – Ngay lúc ấy, lần đầu tiên Stoletov ôm và hôn vào trán, rồi vào má cô một cách đắm đuối. Anastasya không hiểu biết gì về chuyện đó, cô chỉ nghĩ là không nên làm vậy, cần phải thoát ra, cô đã né sang bên nhưng lại sợ bị hỏng cây đàn vì vậy đành đứng lặng như pho tượng, vội vã lắp bắp:

– Không nên, không nên… Em không được phép. Xin thầy… Em mới mười lăm.

– Phải, phải. – Trước những câu van xin, Stoletov vội vàng bỏ tay ra. – Xin lỗi, tôi thật lòng, như anh em… Em chơi hay lắm! Tôi rất biết ơn em, em vàâm nhạc của mình đã truyền thêm sinh lực cho tôi… Em chơi nữa đi. – Stoletov lịch sự hôn tay cô. – Ngày mai em hãy mang đàn tới.

Hôm sau Anastasya không thể đến trường, mẹ cô bịốm, rồi đến lượt cô. Cuộc sống của họ rất khó khăn, thiếu thốn, họ đã ăn hết những nắm bột mì cuối cùng. Phải sau một tuần nữa Anastasya mới có thể quay lại trường, nhưng khi đó thì thầy trưởng khoa đã đi, họ bảo đang tập trung, rồi lên đường ngay. Cứ như bị mất một người thân, Anastasya khóc lóc thảm thiết và nhận ra mình đã gắn bó với Stoletov đến mức nào, một cảm giác dễ chịu, ấm áp, thậm chí sung túc nữa mỗi khi ở bên anh ta.

Chính vì vậy mà Anastasya rất vui khi nhìn thấy vóc dáng cao lớn, khỏe mạnh của Stoletov, và nếu cuộc gặp không xảy ra ở ngoài phố hẳn cô đã ôm chầm lấy Stoletov, nhưng cô chỉ cười như gặp một người thân vừa từ mặt trận trở về.

– Mọi việc đều tốt đẹp. – Stoletov nói với Anastasya như với người bạn ngang hàng. – Mọi việc đã được giải quyết đâu vào đấy, dĩ nhiên là với sự tư vấn của những người tốt bụng. Tóm lại, những người như tôi, Tổ quốc phải biết trân trọng. Tôi có một sứ mệnh rất quan trọng: Vận chuyển những thiết bị tối mật sang vùng Trung Á. Em biết đấy, tôi là chuyên gia duy nhất về kính viễn vọng… Nói chung, ngày kia tàu sẽ khởi hành. Nhân đây, tôi tiết lộ cho em biết một bí mật quốc gia. Tôi có thể tin em được không? Em có thể giữ bí mật và trung thành chứ?… Tốt lắm. – Stoletov vỗ vỗ lên vai cô và như cái máy, bàn tay tụt dần xuống eo. – Tôi còn rất ít thời gian. – Anh ta nghiêng người nhìn vào mặt cô, cặp mắt sáng lên một cách kỳ lạ. – Em có muốn tôi gác lại mọi chuyện để ngày mai tổ chức một buổi tiễn đưa không… Em im lặng à? Em có muốn đưa tiễn tôi một cách trang trọng không?

Anastasya gật đầu, cảm thấy bối rối vì linh cảm một điều gì đó.

– Vậy thì ngày mai, sau buổi trưa, khoảng hai giờ, khi mọi người đã giải tán. Em mang cây vĩ cầm tới, nhất định đấy. Tôi sẽ chuẩn bị sẵn rượu Champagne và kẹo chocolate cho em.

Ngày hôm sau, Anastasya bị say vì mọi chuyện, cô chơi nhạc một cách xuất thần và chỉ tỉnh dậy sau khi cảm thấy đau, rồi khóc nức nở.

– Thôi đi, thôi đi, em yêu. – Stoletov an ủi cô. – Tôi hoàn toàn không biết là em còn trinh… Thôi đừng khóc nữa. Đừng nói gì với ai đấy. – Anh ta bỏ vào túi lưới số đồ ăn thừa còn khá nhiều. – Tôi sẽ gửi thư cho em qua “hòm thư lưu”. Tôi yêu em, chiến tranh kết thúc chúng ta sẽ sống bên nhau. – Stoletov hôn vội vào má cô. – Còn bây giờ, em về đi, tối rồi, sắp đến giờ giới nghiêm.

Run rẩy vì sợ hãi và xấu hổ, Anastasya tội nghiệp về nhà với con tim chết điếng. Cô lấy chiếc chăn trùm kín người, mẹ đã ngủ, ông dượng lo lắng bảo cô ăn tối, nhưng cô lấy lý do bị mệt đi ngủ ngay, thầm nghĩ sẽ chẳng ai để ý. Mọi việc có vẻ diễn ra như vậy, cô ngủ rất say cho đến khi mẹ gọi cô dậy.

– Con là người cuối cùng của dòng họ Gnedin. – Mẹ nói nhỏ bằng một giọng nghiêm khắc. – Danh dự của dòng họ phải được giữ gìn cẩn thận… Dù chúng ta có đói khổ đến đâu, thì đồ ăn thừa trên bàn người khác cũng không bao giờ được mang về nhà. Và cái mùi rượu chè, thuốc lá hoàn toàn xa lạ với nếp sống gia đình ta.

Phần còn lại của đêm, Anastasya vùi mặt vào trong gối khóc nức nở để không ai nghe thấy. Chao ơi, cô muốn quay ngược thời gian lại biết chừng nào để cái ngày hôm qua không bao giờ diễn ra. Cô nghĩ, sáng mai cô sẽ kể hết với mẹ. Nhưng sáng ra, cô lại có một cảm giác hoàn toàn khác, cô lại muốn gặp Stoletov, nghe anh ta nói, cùng ăn, cùng uống, cùng vui cười với anh ta.

Anastasya chạy bộ ngang qua thành phố, đến ga Kazanski để chia tay với thầy trưởng khoa lần cuối. Trên sân ga còn có các cán bộ của trường, họ ngạc nhiên chào hỏi Anastasya. Stoletov cũng có mặt, nắm tay các con của mình, nhưng thậm chí không chào hỏi cô. Chỉ đến khi Stoletov lịch sự giúp cô vợ béo ịch của mình bước lên toa, anh ta mới hạ cố quay đầu về phía cô, nhưng không biểu lộ bất cứ một tình cảm, một động thái nào, chỉ có các cơ trên gò má cao như khẽ giật giật.

Không phải vì sự ngây thơ, nhất là trong tình yêu, chẳng qua là việc thực hiện lời hứa. Suốt một năm ròng, Anastasya đến bưu điện hỏi thư, và cô rất mừng vì không có một bức thư nào. Cảm giác của một cô gái bị lừa cũng dần dần trôi qua, nhưng khi Anastasya gần như quên hẳn Stoletov, thì có một lần ở trong trường, cô nhìn thấy từ phía sau một dáng người cao ráo, rắn chắc và chiếc gáy rám nắng. Người đó, hình nhưđọc được ánh mắt không chút thiện cảm của cô, liền quay lại, mặt đối mặt: Stoletov đội chiếc mũ chỏm như người châu Á, nở một nụ cười thân thiện kỳ lạ, vẻ thăm dò.

– Ôi Nastya, Nastenka[1], tôi mừng quá. – Không chút ngượng ngùng giữa nơi đông người, Stoletov sỗ sàng nắm tay Anastasya đưa vào phòng mình.

Anastasya không phản đối, chỉ đến khi đã vào trong phòng, cô mới lạnh lùng, thậm chí là thô lỗ, né sang một bên:

– Yêu cầu thầy hãy gọi đúng tên tôi. – Bất ngờ trước phản ứng cương quyết của chính mình, Anastasya tuyên bố dứt khoát, rồi không nói thêm lời nào nữa, bước ngay ra khỏi phòng, dập cửa thật mạnh.

Đó mới chỉ là một nửa những gì mà Anastasya định làm, nửa kia phức tạp hơn nhiều. Vấn đề là ở chỗ cô đã gặp lại người bạn học ở trường nhạc Zhenya Zverev. Zhenya là chàng trai tóc vàng, khuôn mặt sáng sủa, học chuyên ngành piano. Ngay từ lúc còn đi học, họ đã là một đôi biểu diễn các đoản khúc rất ăn ý. Hơn nửa năm nay, lúc nào họ cũng bên nhau, mẹ Anastasya rất vui với tình bạn của họ.

Bản thân Anastasya cũng rất vui, cô yêu Zhenya và không thể giấu được điều đó, duy chỉ có một chút cảm giác tội lỗi đối với cậu. Khi Stoletov xuất hiện, Anastasya đưa Zhenya vào trường chơi, giới thiệu với trưởng khoa, rồi kể hết mọi chuyện cho Zhenya, không chút giấu giếm và cũng chẳng nhỏ một giọt nước mắt.

– Thật vô ích. – Sau một hồi im lặng, Zhenya thốt lên.

– Cái gì “vô ích”? – Anastasya ngạc nhiên hỏi lại.

– Vô ích là em đã kể cho anh… Còn bây giờ, anh yêu cầu, cả em và anh, hãy quên chuyện đó đi. Ngoài ra, theo anh, em không nên tiếp tục học ở đây nữa. Năng khiếu của chúng ta là âm nhạc, phải học ở Học viện Âm nhạc.

Vậy là họ đã quyết định. Tuy nhiên, mẹ của Anastasya đặt điều kiện: Dòng họ Gnedin không bao giờ bỏ dở việc gì – phải học xong Vật lý thiên văn, có thể bằng con đường hàm thụ để nhận bằng tốt nghiệp, rồi sau đó muốn làm gì thì làm.

Đôi trẻ lại tiếp tục bàn tính, họ quyết định chuyển sang khoa Hàm thụở đại học, đồng thời thi vào Học viện Âm nhạc.

Cuộc sống dường như lại hồi sinh đối với Anastasya, cô cảm thấy hạnh phúc. Mùa hè năm 1943 trôi qua, mặt trận chuyển sang phía Tây, và không còn ai nghi ngờ về chiến thắng nữa. Mẹ và dượng lại tìm được việc làm, trong nhà vui hơn và no đủ hơn. Anastasya đã có Zhenya, chỉ còn một vướng mắc nhỏ – đơn xin chuyển sang hệ tại chức phải có chữ ký của trưởng khoa.

Buổi sáng, Anastasya đến trường, khi ấy đông người hơn, sau khi gặp Stoletov ngoài hành lang trong bộ quân phục, cô rất đỗi ngạc nhiên:

– Thầy Arkadi Iakovlevich, thầy là đại úy rồi sao?

– Thiếu tá, thiếu tá, nhưng đúng ra phải là trung tá. Thế em nghĩ sao? Mặt trận là nơi bom rơi đạn nổ, nhưng ở hậu phương công việc còn nặng nề hơn nhiều. – Stoletov, giờ lại để bộ râu quai nón cầu kỳ, giơ một ngón tay lên làm ra vẻ quan trọng và nở một nụ cười trịch thượng.

– Vào đây, vào đây. – Stoletov đẩy lưng Anastasya về phía phòng riêng của mình, và trước sự ngạc nhiên của cô, khệnh khạng ngồi vào sau chiếc bàn lớn phủ đầy bụi, với hàng đống giấy tờ và dấu vết ly chén, đồ hộp.

– Xin thầy ký đơn cho em. – Cô sinh viên vừa đi vừa nói.

– Hừm, hừ. – Nét mặt vị trưởng khoa bỗng thay đổi hẳn, mấy ngón tay oai vệ gõ gõ lên bàn. – Em biết không, em sẽ bị xóa tên trong danh sách sinh viên của trường ngay.

Chỉ đến lúc này, Stoletov mới rời mắt khỏi lá đơn, nét mặt của anh ta lại biến đổi, môi mím lại, mắt nheo nheo. Một năm rưỡi qua, Anastasya đã thay đổi nhiều, vẻ đẹp nữ giới đã đạt đến độ chín, trở nên cân đối hơn, cao hơn, thành một người đẹp với đôi mắt to màu cánh gián đầy mê hoặc.

– Em có thể bị đưa ra mặt trận. – Stoletov nói rất khẽ.

– Ngay từ năm 1941, em đã viết đơn tình nguyện ra mặt trận rồi. Còn bây giờ, em xin vào Học viện Âm nhạc.

– Cái gì? – Stoletov bật dậy. – Em định đổi Vật lý thiên văn lấy một bài hát vớ vẩn nào đó hay sao? Nastya, em làm gì thế? – Stoletov vội bước ra khỏi bàn. – Chỉ còn một năm rưỡi nữa là em sẽ có bằng đại học. – Anh ta sán lại gần, định ôm eo cô, rồi thì thầm bằng một giọng như bỏ bùa. – Sau ba năm nữa em sẽ là phó tiến sĩ.

Phải khó khăn lắm, Anastasya mới thoát ra khỏi vòng tay của Stoletov rồi bỏ về. Ngày hôm sau, cô quay lại cùng với dượng. Stoletov ký đơn ngay, rồi vừa trả lại lá đơn, anh ta vừa nói:

– Nhân tiện, xin thông báo, tôi cũng sắp ra mặt trận rồi.

– “Cũng” là thế nào? – Dượng sững người, hỏi lại.

– Các vị biết đấy, bắt đầu từ ngày hôm nay, nữ công dân Afanasieva Anastasya đã bị xóa tên trong trường đại học.

– Nó sẽ học khóa chính quy tại Học viện Âm nhạc.

– Hừ, trong khi giấy tờ thủ tục đến được Ban quân quản, ha-ha-ha, thì chiến tranh chắc là đã kết thúc rồi.

Sau cuộc gặp với Stoletov, dượng thận trọng nói với Anastasya:

– Dượng không biết anh ta là nhà khoa học hay nhà quân sự, nhưng đó là một kẻ rất đê tiện, chỉ cần nhìn cặp mắt gian giảo như mắt chuột cống là rõ.

Nỗi lo ấy hoàn toàn không phải là vô ích. Anastasya mới chỉ thi xong môn thứ nhất là violon đạt điểm “giỏi” thì nhận được giấy gọi nhập ngũ. Vào thời kỳ đó không thể đùa với những chuyện như vậy vì rất dễ bị bỏ tù với tội đào ngũ. Thật ra, dượng cũng cố tìm mọi cách giúp Anastasya, xin được giấy chứng nhận gì đó của Học viện.

– Mọi việc sẽ do Hội đồng tuyển quân quyết định. – Ở Phòng quân vụ người ta giải thích với Anastasya.

Và điều làm Anastasya ngạc nhiên hơn cả là trong Hội đồng tuyển quân, giữa các bác sĩ và ba sĩ quan, cô thấy có cả Stoletov.

Bản thân Hội đồng chỉ mang tính hình thức: Gõ gõ mấy cái vào đầu gối, nhòm vào mồm rồi bắt chổng mông lên.

– Thật tiếc phải đưa một cô gái thế này ra mặt trận. – Một giọng trầm của ai đó như không kìm nổi, bật lên.

– Đủ tiêu chuẩn phục vụ trong quân đội. – Lời kết luận khô khan vang lên.

Khi Anastasya mặc quần áo lại, cô nhìn thấy khuôn mặt đắc chí của Stoletov lấp ló trên tấm rèm:

– Đừng quên mang theo cây đàn nhé. Bên tôi thì em không sao đâu. Em chỉ có mỗi việc phải làm thôi.

Mẹ khóc lóc thảm thiết và vô cùng đau khổ nên không thể đi tiễn. Chỉ có dượng và Zhenya ở ga hơn một ngày để tiễn Anastasya. Đoàn tàu của họ, chắc là hạng hai nên phải nhường đường cho các chuyến tàu khác, cứ chạy khoảng một giờ lại dừng, đến ga Safonovo phải chạy sang đường dự phòng. Giữa đêm họ được đưa xuống, xếp thành hàng, và dưới ánh sáng đèn pha, từ xa Anastasya thoáng nhìn thấy vóc dáng cao lớn của Stoletov. Có thể tình cảm của Anastasya đối với Stoletov vẫn như xưa, chỉ thêm chút khinh bỉ, tuy nhiên, giờ đây cô muốn Stoletov nhìn thấy cô, thậm chí còn muốn lảng vảng trong tầm nhìn của anh ta nữa.

Nhưng điều đó đã không xảy ra, phụ nữ được đưa vào doanh trại riêng giống như những chiếc lán gỗ. Trong gần một tháng, họ được huấn luyện quân sự, bắn súng, rèn luyện thể chất rất nghiêm khắc. Khoản ăn uống thì tệ đến mức trong thời gian chờ đợi kéo dài trước khi phân về các đơn vị, vì quá suy kiệt, Anastasya đã phải dò hỏi “anh chị có biết thiếu tá Stoletov không?”.

Không ai biết gì về Stoletov cả, nhưng khi việc phân bổ kết thúc, Anastasya rất ngạc nhiên khi được phân về một đơn vị mới, có tên là “trung đội đặc nhiệm” gồm những người không còn trẻ nữa, thậm chí sức khỏe và tuổi tác không nằm trong diện nghĩa vụ quân sự, đa số đều đeo kính, hói đầu, mà theo cách nói của dượng cô là những “đối tượng kinh tởm”. Họ sẽ chiến đấu ra sao? Và cô nữa, sẽ đánh nhau thế nào? Các phụ nữ khác đều là cứu thương, điện báo viên, còn cô?

Rất hoang mang, Anastasya lặng lẽ khóc thầm khi đơn vị của họ được tách ra, băng qua thành phố đổ nát, quay về ga cũ. Tại đây, vừa thoáng nhìn thấy Stoletov từ xa, Anastasya đã định chạy lại, song cô biết không được phá vỡ đội hình.

– Thưa đồng chí trung tá, trung đội đặc nhiệm đã có mặt đầy đủ chờ mệnh lệnh của đồng chí. – Stoletov được cấp dưới báo cáo.

Sau khi kiểm tra, trung đội được đưa ngay lên tàu, không thấy Stoletov đâu nữa. Anastasya cũng cảm thấy nhẹ nhõm hơn vì toa tàu này khác hẳn các toa tàu trước, tiện nghi hơn, có phòng ăn riêng, và các đồng đội “đẳng cấp” cũng tỏ ra thoải mái hơn, không theo kiểu nhà binh, nhiều người trong số họ đã biết nhau từ trước, và qua cách đối đáp giữa họ, Anastasya hiểu rằng, phần lớn họ là những chuyên gia phục chế, đánh giá đồ cổ và đồ quý hiếm.

Họ đi rất lâu và chậm, xuống tàu tại một ga xép nào đó. Với sự quan trọng của mình, chỉ huy Stoletov ngồi vào chiếc xe con màu đen, còn tất cả được chuyển sang những chiếc xe tải có mui. Họ chạy ròng rã suốt một ngày không ăn trưa, không chỉ một lần sa vào vũng lầy, khi đó những “đối tượng kinh tởm” buộc phải lao động chân tay, nhúng mình vào bùn đất của vùng đầm lầy, sau đó cứ càm ràm mãi.

Ở ngoại ô thành phố nhỏ, một căn phòng lớn trong một nhà máy cũ nào đó được bố trí làm nơi đóng quân đầu tiên của họ. Stoletov có hai cấp phó. Trong số các phụ nữ thì hai người làm cấp dưỡng, hai người là kỹ thuật viên, một là bác sĩ, một thư ký – là Anastasya, tổng cộng bốn mươi bảy người, chưa kể đội quân bảo vệ rất đông đảo.

Thời gian đầu, chưa có nhiệm vụ gì cụ thể cả, thật ra, các chuyên gia đồ cổ có đi đâu đó, nhưng bị rơi vào trận ném bom, một người hy sinh, hai người bị thương, họ mang về một số vật dụng gia đình gì đó. Theo Anastasya, chỗ họ tìm được là một bãi rác, song những “đối tượng kinh tởm” đã nghiên cứu và chứng minh các món đồ gỗấy có tuổi thọ trên một trăm năm, riêng cái ghế đẩu được họ định giá bằng một khoản tiền khổng lồ, đến mức cô chỉ biết cười nhưng vẫn phải ghi chép vào cuốn sổ thống kê.

Nói chung, nhiệm vụ không có gì nặng nề, mối quan hệ giữa Anastasya với Stoletov dường như chỉ thuần túy là công việc, thậm chí có lúc anh ta định sán lại gần cô thì thái độ của cô bây giờ hoàn toàn dửng dưng pha chút khinh bỉ. Sau đó Anastasya cũng dần dần đoán ra nhiệm vụ, cô dò hỏi thêm Stoletov, nhưng anh ta chỉ im lặng. Những ngày đầu tham gia cuộc chiến đã dạy dỗ cô nhiều điều.

Cấp phó của Stoletov phụ trách công tác chính trị tư tưởng, giao cho Anastasya một việc gì đó. Cô làm xong nhưng anh ta có vẻ không hài lòng, cô phản ứng lại, liền bị phạt giam ba ngày. Cô bật cười, cứ nghĩ là chuyện đùa, ngay lập tức, anh ta tuyên bố cô bị giam thêm ba ngày nữa.

Chỉ nửa tiếng sau, các chiến sĩ bảo vệ xuất hiện, áp tải Anastasya vào phòng cách ly. Và khi Anastasya sắp phát cuồng lên, mà đó mới chỉ là khúc dạo đầu của tai họa, thì cô bị đưa ngay sang phòng giam của doanh trại – nơi đây chỉ có bóng tối lạnh lẽo, nỗi khiếp sợ trong bốn bức tường xi măng thậm chí cũng không có chỗ để ngồi. Còn những người lính bảo vệ to lớn, lực lưỡng thì nhảy cẫng lên vì vui sướng:

– Họ tặng ta một con bé! Buổi tối chúng ta sẽ tổ chức dàn đồng ca.

Đã vào đây thì cũng chẳng thể phát cuồng được nữa. Khiếp sợ những tiếng kêu chít chít, Anastasya ngồi xổm trong góc phòng, khóc lặng lẽ, gọi mẹ, hai hàm răng đánh vào nhau lập cập vì quá lạnh và sợ hãi. Cô biết, khi màn đêm buông xuống sẽ chỉ còn bóng tối vì chỉ có một bóng đèn nhỏ xíu ngoài hành lang. Anastasya gặp may, hay mọi việc đã được quy định hoặc thỏa thuận như vậy. Một phụ nữ khỏe mạnh vào phòng, bắt cô cởi hết quần áo ra, rồi thu hết áo khoác ngắn, mũ mềm, đồng hồ, thắt lưng, thậm chí định thu cảủng nữa, nhưng rồi thương hại trả lại đôi ủng.

Một ngày hai lần, người ta cho Anastasya ăn một thứ gì đó bốc mùi khó chịu, và chỉ bằng cách ấy cô mới nhận ra đã qua được hai ngày. Cuối cùng cô cũng kiệt sức, không khóc được nữa, chỉ biết co quắp trên sàn nhà lạnh lẽo và rên ưử. Đột nhiên tiếng ổ khóa vang lên, có nghĩa là cô phải ngồi dậy rồi đứng nghiêm và nói “binh nhì Afanasieva[2] có mặt”.

Cố vượt qua nỗi sợ hãi, Anastasya bật dậy nhưng đôi chân cô như nhũn ra, vàđể không bị ngã, cô lùi vào trong góc, rồi như một chiếc tất rách bốc mùi hôi thối, cô lặng lẽ bò ra. Stoletov ngồi xổm ngay trước mặt Anastasya, cả người tỏa ra mùi rượu, mùi thức ăn béo ngậy và mùi kiêu ngạo.

– Thế nào, binh nhì Afanasieva. – Stoletov khẽ nói bằng một giọng không quá khô khan nhưng ẩn chứa nụ cười ngọt xớt. – Cô không muốn hiểu, đây là quân đội, là chiến tranh hay sao, cần phải tuân thủ kỷ luật, và khi cấp trên có mặt, nhất lại là người chỉ huy, điều lệnh quy định cấp dưới phải đứng nghiêm.

Anastasya không đứng dậy, cơ thể càng nhũn ra, gục đầu vào giữa hai đầu gối và càng khóc to hơn.

– Thôi được rồi. – Giọng Stoletov có vẻ nghiêm khắc hơn. – Nước mắt không thắng nổi chiến tranh đâu. Cần phải tuân thủ điều lệnh. – Đôi tai có khả năng thẩm âm của Anastasya nhanh chóng nhận ra sự lạnh lùng sắt đá. – Tôi đã định xin thả cô ra trước thời hạn, nhưng tôi thấy, thật vô ích, còn quá sớm. Một, hai ngày nữa đơn vị sẽ hành quân về phía Tây, còn cô, nếu cứ như thế này, chắc là sẽ phải cố đuổi theo cho kịp, mà rất có thể cô sẽ bị điều sang đơn vị khác. Nhiệm vụ là nhiệm vụ.

– Không, không! – Anastasya muốn lao vào người Stoletov, nhưng anh ta đã nhanh nhẹn đứng lên và né sang một bên.

– Cô không học được cái gì sao? Cô cứ nghĩ đây là nhà trẻ, rồi ai đó sẽ nuông chiều cô. – Stoletov lên giọng. – Trước mặt cấp trên, cô biết phải ứng xử ra sao rồi đấy.

Dựa vào tường, Anastasya cố đứng dậy trong tư thế “nghiêm” và thốt ra bằng một giọng khàn đặc:

– Thưa đồng chí trung tá, binh nhì Afanasieva…

– Nghỉ. – Stoletov bước tới, giơ tay ra, khinh mạn sờ vào cằm cô. – Cái cằm, cái cằm xinh đẹp này phải đưa về phía trước… Thế. Nước mắt nước mũi, lau đi… Tôi không có thời gian. Liệu có nên bỏ tiền túi ra, rồi hạ mình quỳ gối trước Ban quân quản để đưa cô ra, hay là cứ để cô ở lại đây theo quy định… – Stoletov không nói hết câu, chỉ nâng cằm cô lên cao hơn. – Tôi không biết nữa.

Anastasya không biết trả lời ra sao, cả người run bần bật, nước mắt tuôn lã chã, chỉ lắc lắc đầu.

– Thôi được rồi. – Stoletov khệnh khạng lùi lại một bước. – Nếu cô không muốn theo điều lệnh, thì theo cách đàn bà…

– Không, không! – Anastasya rít lên và ho sặc sụa.

– Theo điều lệnh, theo điều lệnh, binh nhì Afanasieva.

– Xin tuân lệnh đồng chí trung tá.

Stoletov lại bước tới một bước, chắp tay sau lưng, mỉm cười giảo quyệt, cúi xuống nhìn thẳng vào mặt cô:

– Cô sẽ chơi violon chứ?

– Thưa đồng chí trung tá, vâng ạ.

– Thôi được rồi, tôi sẽ năn nỉ Ban quân quản.

Anastasya hy vọng cô sẽ sớm được thả ra, nhưng thời gian cứ trôi, và sau hai lần người ta mang đồ ăn tới, cô xác định một ngày nữa lại trôi qua. Cả người cô đau như dần, lạnh run cầm cập, cô chẳng còn quan tâm tới điều gì nữa, cho đến khi tỉnh lại, cô cảm thấy hối tiếc vì đã phải hạ mình.

– Afanasieva, bước ra ngoài. – Cuối cùng, một mệnh lệnh vang lên.

Phó chỉ huy trưởng phụ trách chính trị đích thân đến, đưa Anastasya lên chiếc xe tải mui trần giữa trời mưa gió và giá lạnh. Về đến đơn vị, cô ngã vật ra.

– Đúng là đồ phát xít! Đồ vô nhân đạo! – Các “đối tượng kinh tởm” hói đầu vây kín lấy Anastasya. – Gọi bác sĩ ngay, mang thuốc lại đây!

– Cô ấy cần được sưởi ấm và yên tĩnh. Đưa côấy vào phòng chỉ huy. – Phó chỉ huy trưởng phụ trách chính trị tỏ ra quan tâm.

– Đúng rồi, ở đấy sạch sẽ và ấm áp. – Mọi người hưởng ứng.

Vậy là Anastasya được đặt trên đi văng trong phòng Stoletov, cạnh đó là giường của anh ta. Trong thời gian cô vẫn còn ốm, thỉnh thoảng Stoletov mới xuất hiện, thậm chí còn căn dặn bác sĩ phải chăm sóc cô chu đáo. Nhưng khi cô vừa bình phục, giữa đêm Stoletov bắt cô phải uống rượu, rồi ra lệnh: “Chiều ta đi!”.

Mọi việc cứ như vậy kéo dài vài tuần cho đến khi họ có chỗở mới, đó là khoảng thời gian kinh tởm nhất trong cuộc đời Anastasya. Stoletov, một người đàn ông khỏe mạnh đang độ tuổi sung sức đã đòi hỏi ở cô những điều không thể tưởng tượng nổi, nghiền nát tuổi xuân, cùng với vẻ duyên dáng và sắc đẹp của cô. Còn cô, ngay từ bé đã được dạy dỗ phải biết cắn răng chịu đựng để giữ lời hứa, dù có những lúc phải lộn mửa nhưng vẫn thực hiện những trò dâm đãng ngông cuồng của anh ta.

Sau đó đơn vị của họ vượt qua trận tuyến, đi về phía Tây, rồi Anastasya được nghỉ phép, từ đó cô ít gặp Stoletov hơn. Nếu như trước đây, Anastasya nhìn các đồng nghiệp lớn tuổi của mình một cách cao ngạo, giễu cợt, thì bây giờ cô hạ mình xuống, nhưng họ vẫn nhìn cô một cách nghi hoặc, xa cách, thậm chí một chị cấp dưỡng còn gọi cô là “cái nệm rơm”.

Điều đó còn tệ hơn là bị giam và vượt quá sức chịu đựng của Anastasya. Khi trung đội đặc nhiệm chuyển đến địa điểm mới, cô xin Stoletov chuyển sang đơn vị chủ lực, ra mặt trận.

– Viết đơn đi. – Chỉ huy đơn vị lạnh lùng nói, và khi cô vừa viết xong anh ta liền cẩn thận gấp lá đơn lại. – Giờ đây tôi có thể điều cô ra mặt trận bất cứ lúc nào, như người ta nói là “theo nguyện vọng cá nhân”. Còn hiện tại, cô phải phục vụở đây, cô được biên chếở đây. Mà cô không hài lòng cái nỗi gì, ban đêm thì giải trí, ban ngày thì chơi không.

Quả đúng như vậy, công việc hoàn toàn không có, họ dừng chân ở đâu đó bên vùng đầm lầy Belarus, Stoletov trở nên giận dữ, thường xuyên văng tục và uống rượu. Giờ đây, không chỉ ban đêm mà ngay cả ban ngày anh ta cũng có thể nhạo báng Anastasya, biến cô thành con đầy tớ tầm thường. Tình trạng như vậy kéo dài cho đến khi Stoletov kiếm được ở đâu đó một cây vĩ cầm. Cây đàn thuộc loại xoàng, chắc là từ câu lạc bộ thôn xóm nào đó. Anastasya không thể lên dây được theo ý muốn, còn trình độ âm nhạc của Stoletov chỉ đủ để thưởng thức các bản tình ca của dân Digan, và cây đàn cũng ở mức đó.

Vị chỉ huy trưởng tìm được sự lãng quên trong rượu và âm nhạc, giúp khuây khỏa phần nào. Còn các “đối tượng kinh tởm” hóa ra không chỉ là những người biết đánh giá cổ vật, đồ quý hiếm, mà nhiều người trong số họ còn rất am hiểu âm nhạc. Mỗi khi Stoletov uống say đi ngủ hay vắng mặt, họ lại đề nghị Anastasya chơi một vài bản nhạc cổ điển nào đó, và họ vô cùng thán phục khi nghe cô chơi đàn, dù không có bản nhạc và với một cây đàn thảm hại như thế. Bây giờ, vào những buổi tối mùa đông dài lê thê, thay vì xúm lại quanh cỗ bài, vốn bị cấm, trong làn khói thuốc lá mù mịt, thì họ lại có những buổi hòa nhạc. Mối quan hệ giữa Anastasya với họ, nhờ đó cũng từng bước được cải thiện, thậm chí như cha con. Trong bầu không khí chung như vậy, Stoletov cũng đối xử với cô tử tế và chu đáo hơn.

Các buổi biểu diễn độc tấu ấy kéo dài không lâu. Theo sát trận tuyến, đơn vị cũng tiến về phía Tây, sang lãnh thổ của Đông Phổ, sát bên thành phố Kenigsberg[3], và ở đây, công việc bắt đầu. Tất cả các đồ vật quý hiếm mà Anastasya gọi là đồ cũ, được đóng vào trong các va ly rồi vận chuyển trên các đoàn tàu, các đoàn xe tải và xe ngựa. Không chỉ làm ban ngày, mà cả ban đêm cũng có lúc phải ghi chép khoản bồi thường chiến tranh. Công việc rất nhiều, Anastasya phải cầm bút đau cả tay, đến mức chính cô cũng phải đoán mò rồi ghi bừa nhiều món “đồ cũ”, như thảm, tranh, tượng, đèn chùm, đồ kim hoàn, đồ gỗ, vũ khí, sách cổ, và còn bao nhiêu thứ khác nữa mà theo Anastasya chỉ đáng vứt ra bãi rác.

Anastasya cứ nghĩ, các “đối tượng kinh tởm” kia chắc sẽ không hài lòng với hàng đống đồ bỏấy, nhưng hóa ra ngược lại: Suốt ngày đêm, cô “xắn tay áo” lên, cắm đầu viết không ngơi nghỉ về các thứ “đồ cũ” ấy. Tất cả đều được chọn lọc, kiểm tra, phân loại ngay tại “thực địa”. Stoletov thay đổi hẳn, hăng hái giám sát tất cả mọi công việc, phấn khởi xoa tay, dạo này chỉ uống rượu trắng của Đức và rượu vang Pháp, có thể nhờ vậy mà phong cách của anh ta trở nên thanh lịch hơn trong hoàn cảnh chiến tranh. Đối với Anastasya, Stoletov tỏ ra chu đáo hơn, ban đêm chẳng còn thời gian mà nhớ đến cô nữa.

Hầu nhưđêm nào Stoletov cùng với hai “đối tượng kinh tởm” có thâm niên nhất cũng ở kín trong phòng riêng, uống bia và chơi bài. Nhưng sáng sớm, Stoletov lại gọi Anastasya tới:

– Afanasieva, cô viết lại các biên bản này và chép lại trang này… Hừ, mấy lão già dở hơi nhầm lẫn lung tung cả. Vì sự sai sót của họ mà rất có thể tôi phải ra tòa án binh chứ chẳng chơi… Nhân đây, côđang trong quân ngũ nên đừng quên chúng ta phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về tất cả tài sản… Bởi vậy, cô phải biết im lặng, mọi lúc, mọi nơi, rồi Đảng sẽ không quên cô. Nhân nói chuyện Đảng, tôi nghĩ đã đến lúc cô nên xin vào Đảng. Đến lúc rồi… Cô không nhớ tôi sao? Tôi rất nhớ cô! Nhưng cô thấy đấy, công việc bù đầu. Tôi bắt đầu tin tưởng cô, thậm chí rất tin tưởng. Nói chung, chúng ta là đồng đội cùng chiến hào, hết mình phụng sự Tổ quốc!

Hai ngày sau, vào lúc nửa đêm Stoletov gọi Anastasya đến, giọng vui vẻ:

– Anastasya, có nhiều việc tôi đối xử với cô không phải. Cô hãy tha lỗi. – Stoletov choàng lên vai Anastasya chiếc áo khoác lông thú sang trọng, nắm lấy tay cô, tự mình đeo chiếc nhẫn có gắn hạt kim cương to rồi hôn tay cô. – Cô tha thứ cho tôi chứ?… Cảm ơn. Chỉ có điều những thứ này không thể dùng ở đây được. Sáng mai sẽ có phái viên của chúng ta về Moskva, cô hãy đưa địa chỉ và gửi một ít hàng về nhà, chỉ có điều đừng to quá, chọn cho mẹ một món quà gì đó.

Lúc đó Anastasya không hiểu gì cả, nhưng rồi cả đêm hôm ấy cô cứ bị dằn vặt mãi bởi ý nghĩ: Lấy hay không lấy, và mẹ sẽ nghĩ thế nào về việc này? Rồi cô nhớ lại những câu chuyện mẹ kể, sau khi cha mất, mẹ đã phải bán đi những đồ trang sức và lông thú quý giá của mình với cái giá rẻ mạt để nuôi sống gia đình… Còn đây là quà của con gái. Và cô đã quyết định.

Bẵng đi một thời gian, khi Anastasya dường nhưđã quên về chuyện đó thì đột nhiên Stoletov cho gọi cô lên, mắt đỏ ngầu:

– Chuyện gì thế này? Chuyện gì? – Bàn tay nắm tờ giấy run lên bần bật. – Có thể thấy rõ là mẹ cô cũng ngu như cô. Hừ, “áo lông của người khác”. – Stoletov bắt đầu trích dẫn bằng một giọng dè bỉu: – “cái nhẫn của người khác”, “việc ấy không xứng đáng với dòng họ Gnedin”, “là hành động trộm cướp thời chiến”.

– Đọc trộm thư của người khác cũng không xứng đáng.

– Cái gì?! Đồ ngu! Cô có biết đây là cái gì không? Nếu bức thư này mà rơi vào tay người khác thì sẽ ra sao? Cô biết không?

– Bây giờ thì tôi đã biết rồi, mẹ tôi đã giải thích rõ ràng.

– Cái gì? Ôi, đồ ngu ngốc mạt hạng. Thế mà tôi lại định giúp cô nên người cơđấy! – Stoletov túm lấy cổ áo khoác ngắn của Anastasya, tát liên tục vào mặt, không mạnh nhưng rất sỉ nhục.

Sau đó Anastasya bị đưa đi rửa soong chảo ở nhà bếp. Những ngày ấy đơn vị đang chuẩn bị tiến vào lãnh thổ Ba Lan.

Tại Ba Lan, trung đội đặc nhiệm hầu như không hoạt động gì cả, đất nước nghèo đói này đã bị phá hủy và cướp sạch. Stoletov lại chuyển sang chế độ “bãi chăn thả” – rượu không pha, hay cáu giận, nhẫn tâm. Thời kỳ này, anh ta chỉ gọi Anastasya tới có một đêm, nhưng tỏ ra khó chịu, mắng cô bốc mùi chấy rận. Công bằng mà nói, Stoletov không đánh đập và sỉ nhục cô nữa vì không có thời gian, có cái gì đó đang làm cho anh ta và các “đối tượng kinh tởm” phải bận tâm lo lắng. Anastasya cố lắng nghe và hiểu ra, chiến thắng đang đến gần, quân đội tràn sang châu Âu, và điều tệ hại nhất là có thêm một số “trung đội đặc nhiệm” nữa được thành lập – một cuộc cạnh tranh về khoản bồi thường chiến tranh đang diễn ra gay gắt. Mọi vấn đề đều được giải quyết ở Moskva, nhưng Ban tham mưu sưđoàn đặc nhiệm của Stoletov không được vào thủ đô.

Anastasya nhận thấy, Stoletov và các “đối tượng kinh tởm” đang tỏ ra lo lắng về “vựa lúa của đất nước” mà chẳng hiểu gì cả. Có cảm giác, bọn họ đúng là các “đối tượng kinh tởm” thật sự. Họ còn muốn gì nữa chứ, “binh lính được ngủ yên tức là đã hoàn thành xong nhiệm vụ”, nhưng với họ thì ngược lại: Họ tỏ ra lo sợ khi ngoài mặt trận chẳng có việc gì làm, chạy ngược chạy xuôi, tụm năm tụm ba, mặt mũi nhợt nhạt. Trước đây, những người lớn tuổi nhất trong số các “đối tượng kinh tởm” đôi khi phải nhắc chỉ huy nên tiến hành công việc như thế nào, còn bây giờ thì họ chẳng e dè yêu cầu phải báo lên Ban tham mưu, thậm chí phải gọi về Moskva, rằng họ không thể cứ ngồi mãi ở hậu phương.

Cuối cùng, Stoletov có chuyến công tác về thủ đô, nhưng các chuyên gia thì vẫn không hài lòng. Họ bảo không thể di chuyển bằng những chuyến tàu bình thường – thời gian là tiền bạc, trong khi đó, chiến tranh sắp kết thúc, có thể phải dùng máy bay quân sự. Tuy nhiên, Stoletov chỉ vắng mặt có năm ngày, sau khi quay về, anh ta bắt đầu tiến hành điều binh, và trong lúc phục vụ các đồng sự ăn trưa, tình cờ Anastasya nghe họ nói:

– Dĩ nhiên rồi, tốt nhất là ở Đức hay ở Áo cũng được.

– Ít ra thì cũng phải ở Cộng hòa Czech, còn hơn cái nước Ba Lan chết đói này.

– Thế còn Hungary thì sao?

– Không, không. Nước Áo mới đây vẫn còn là một đế quốc giàu nhất châu Âu.

– Đó còn là thủ đô của thế giới âm nhạc nữa.

– Ồ, quỷ thật! Trong số chúng ta không có ai là chuyên gia về nhạc cụ.

– Rồi cũng xoay xở được thôi. Ở đấy không có đồ dởm đâu.

Mọi việc diễn ra đúng như thế. Có cảm giác nhưở đây không có chiến tranh. Họ đóng quân gần biên giới nước Đức, giữa Viên và Linz[4], trong lâu đài Mühldorftuyệt đẹp thời Trung cổ. Và đúng như các “đối tượng kinh tởm” mong ước, công việc nhiều đến nỗi việc phân loại và vận chuyển phải tiến hành suốt ngày đêm. Cũng ở đây, lần đầu tiên đã nổ ra một cuộc tranh cãi gay gắt giữa các chuyên gia và đến tối thì biến thành một cuộc ẩu đả thực sự. Stoletov cũng nhận được một quả đấm vào mặt và phải bắn chỉ thiên. Hôm sau, tất cả đều im lặng chăm chú làm việc, nhưng đến đêm đã xảy ra một “sự kiện đặc biệt nghiêm trọng”: Một người treo cổ, một người khác không hiểu lý do gì lại bỏ vào núi và hình như bị rơi xuống vực.

Một tổ công tác từ Ban chỉ huy sưđoàn được điều đến, tổ chức tang lễ trang trọng – trong chiến tranh những chuyện như vậy chưa bao giờ xảy ra.

Anastasya có cảm giác như không có chiến tranh.

– Chuyện gì thế nhỉ?

– Lũ ác thú không chia nổi miếng mồi ngon. – Nữ bác sĩ trung đội bình luận.

Mấy cái xác được chôn cất ở đâu đó, ngay sau đấy mọi việc liền bị rơi vào quên lãng và công việc lại sôi lên sùng sục. Thật ra, Stoletov cũng chẳng phải vất vả gì lắm, chỉ huy một đội quân đang chiến thắng thì có gì phải vất vả, nhất là trong điều kiện như thế này. Đầu xuân, tòa lâu đài kỳ vĩ nằm trên sườn núi giữa phong cảnh tuyệt đẹp, bên khe núi chim hót líu lo. Còn đồ ăn thì vô cùng phong phú, suốt ngày Anastasya phải bưng bê hết khay này đến khay khác như một người nội trợ tháo vát. Giờ đây, ngay cả mùi cồn tỏa ra từ người nữ bác sĩ cũng làm cho Stoletov nhăn mặt, bực tức:

– Cái mùi gì làm ô nhiễm không khí thế này? Khó chịu quá!

Còn nói gì nữa, từ thành phố bên cạnh có cái tên rất giàu nhạc điệu là Krems-An-der-Donau, cứ cách một ngày bia tươi lại được chở đến, nhưng đó là vào ban ngày, còn chiều và tối là các cuộc liên hoan. Thật ra khách khứa không có, ơn Chúa thế là tốt, vì mọi việc đều phải kín đáo. Rượu vang lâu năm loại thượng hảo hạng nằm trong các kho chứa mát lạnh của lâu đài còn giăng đầy mạng nhện được khui ra, nhưng không thể uống một cách đơn giản được, những kẻ hậu sinh sẽ không hiểu. Vào lúc gần nửa đêm, sau khi đã hoàn thành vượt mức nhiệm vụ vẻ vang được giao, Stoletov và hai người lớn tuổi trong số các “đối tượng kinh tởm” ngồi riêng trong gian phòng lớn, thay quần áo cho phù hợp với nghi lễ sang trọng. Và nhưđể hoàn thiện cho bản sắc của miền đất, Anastasya sẽ chơi các bản nhạc Điu valse thành Viên, Danuyp xanhBu tri trên dãy Alpes[5].

Không khí chiến tranh sắp kết thúc có thể cảm nhận được ở bất cứ đâu, nhất là trong kỷ luật quân đội. Càng ngày các đồ vật càng khó kiếm trong các “vựa lúa” vì trung đội nào cũng trở thành “trung đội đặc nhiệm”, mỗi người lính còn sống đều cố mang về nhà một món quà kỷ niệm gì đó, còn các sĩ quan thì khẩu vị đa dạng hơn.

Các “đối tượng kinh tởm” càng hoạt động sôi nổi, họ quyết định “nếu núi không đến với Mahomet thì[6]…”. Nói chung, với sự hộ tống của lực lượng bảo vệ, họ có thể dễ dàng lùng sục ở mọi nơi, biết được chỗ nào có những đồ vật có giá trị nghệ thuật và những con người liên quan đến văn hóa, nghệ thuật. Bản thân Stoletov cũng không ngạc nhiên khi mọi người đưa cả Anastasya vào danh sách những người thẩm định – cô phải thẩm định tình trạng của các nhạc cụ.

Lần xuất quân thứ nhất, họ rời tòa lâu đài trong ba ngày. Vừa quay về, Stoletov liền cho gọi Anastasya đến, lo lắng tra hỏi về tất cả mọi việc, chỉ đến khi Anastasya mệt rũ ra, anh ta mới chịu đi ngủ. Khi họ quay về sau “chiến dịch” thứ hai, cũng mất ba ngày, Stoletov tỏ ra dịu dàng hơn với Anastasya.

– Ông ta yêu cô, ghen tuông đấy.

– Lúc nào cũng nhắc đến cô. – Mấy chị cấp dưỡng nói với Anastasya.

Còn Stoletov thì tuyên bố:

– Đồng chí Afanasieva Anastasya thực hiện theo mệnh lệnh chỉ huy và nhiệm vụ của người thư ký, do đó phải tuân thủ kỷ luật quân đội thời chiến. Nói ngắn gọn, đồng chí ấy rất cần cho đơn vị.

Có thể chính lời tuyên bố đó đã cứu mạng cô, bởi lẽ trong “chiến dịch” tiếp theo, nhóm của cô bị phục kích, hai người bị thương, hai người hy sinh. Dẫu sao thì vẫn là chiến tranh!

Ơn Chúa, bất cứ cuộc chiến tranh nào, thậm chí đẫm máu và kéo dài nhưĐại chiến thế giới lần thứ hai, hay đối với Anastasya là Cuộc chiến tranh Vệ quốc vĩ đại, thì cuối cùng nó cũng kết thúc.

Anastasya nghe được tin đó qua radio, cô quên hết mọi chuyện và ghi luôn vào cuốn “sổ cái” hàng chữ to “Hoan hô!”.

Mọi người không tổ chức ăn mừng đặc biệt: Đối với các “đối tượng kinh tởm”, như mọi người vẫn nói, đang là thời điểm sôi động nhất, đã đến lúc phải gạn lấy “lớp váng sữa cuối cùng”; còn đối với Stoletov thì đây là dịp lễ hội triền miên. Anh ta đã hoàn thành xong sứ mạng quan trọng đặc biệt của mình, giờ đây là lúc cần phải hối thúc và nhắc nhở các “đối tượng kinh tởm” về chuyện này chuyện nọ. Còn chính mình thì về nguyên tắc, không làm gì hết.

Với Ban chỉ huy sưđoàn đặc nhiệm, có mang bánh ra nhử Stoletov cũng không muốn đến nữa. Sau bữa trưa, khi đã uống say, Stoletov liền tắt máy thông tin với lý do địa hình đồi núi làm mất sóng, cả ngày lúc nào cũng chắp tay sau lưng đi đi lại lại khắp lâu đài, chẳng thèm để mắt đến công việc mà chỉ quan tâm đến cấu trúc của tòa lâu đài, có vững chắc không.

Buổi tối, trung đoàn trưởng cùng với hai, ba chuyên gia thẩm định đồ cổ quan trọng nhất mà giờ đây mọi người đều biết rõ, tụ tập với nhau trong những căn phòng sang trọng nhất của lâu đài. Họ thay quần áo dân sự, vừa ăn uống thoải mái, vừa nghe Anastasya chơi nhạc (chỉ có một mình cô được vào phòng, mọi người cũng đã quen với cô, tin tưởng cô – dẫu sao thì cô cũng thuộc dòng dõi quý tộc), rồi bàn tính về công việc hiện tại và sắp tới, thậm chí cả việc xây dựng lại thế giới tương lai nữa.

Đến nửa đêm, mọi người về phòng, Stoletov đưa Anastasya vào một phòng ngủ lớn, có chiếc giường được trang trí như trong truyện cổ tích.

– Chúng ta phải được sống xứng đáng! – Stoletov hét to.

Anastasya chỉ nhấp môi chút rượu, còn Stoletov thì uống hết một chai vang nữa, say mèm, rồi sau đó khi đã nằm vào giường, anh ta tỏ ra rất dịu dàng với cô, thì thào bằng một giọng say đắm:

– Tôi yêu em, yêu em! Nếu sau chiến tranh, tình hình ở Moskva không có gì thay đổi, các quân nhân bàn tán như vậy, thì tôi sẽ đưa em sang Thụy Sĩ, cũng gần thôi… Chúng ta sẽ mua một tòa lâu đài và sẽ sống hạnh phúc ở đấy. Em đồng ý chứ?

– Nhưng anh còn vợ con ở Moskva kia mà?

– Phù, đừng nhắc đến con ngốc mập ú ấy nữa. Tôi đã chu cấp cho họ quá đầy đủ rồi. Em sẽ là vợ tôi. Nastya[7], em sẽ làm vợ tôi chứ?… Sao em im lặng, trả lời đi!

Anastasya không trả lời, Stoletov không ép buộc, không cục cằn, càng ngày càng tỏ ra quan tâm và dịu dàng hơn. Stoletov vuốt ve một cách nồng nhiệt, mơ tưởng chuyện hai người sẽ sống với nhau sau chiến tranh, rồi kể cho cô nghe nhiều việc, tham khảo ý kiến cô. Còn Anastasya chỉ nhìn vào bóng đêm và bắt đầu cảm thấy nặng nề, không phải vì cái gì khác mà chính là vì cô không thể so sánh Stoletov với chàng trai Zhenya, và cô nhớ đến anh. Đối với Stoletov, chẳng qua là cô phải quen dần, chấp nhận một sự ràng buộc đối với cái sức mạnh đó. Dẫu có thế nào, cô cũng thấy Stoletov là một người có khả năng đặc biệt, và nói gì thì nói, cô cũng phải nghĩ đến tòa lâu đài bởi cô thuộc dòng dõi quý tộc. Điều lạ lùng nhất là giờ đây chính cô lại mong đêm xuống: Màn đêm đánh thức trong cô niềm khát vọng nữ giới, và cô rất đỗi ngạc nhiên khi nhận ra, ngay cả những lúc yếu đuối, Stoletov vẫn tỏ ra vững vàng, bắt mình phải tuân thủ nghiêm ngặt kỷ luật quân đội.

Stoletov dậy rất sớm, cứ nhưđêm qua không hề uống gì cả, tự pha cà phê và mang đến tận giường cho Anastasya, và trong lúc cả hai cùng uống, anh ta nói bằng một giọng nửa như ra lệnh:

– Đêm qua tôi say, chắc là nói nhiều điều nhảm nhí, em quên hết đi nhé.

– Kể cả về tình yêu nữa?

– Tôi nói nghiêm túc đấy.

– Chẳng lẽ tình yêu không phải chuyện nghiêm túc?

– Binh nhì Afanasieva!

– Báo cáo trung tá, có ạ! – Anastasya bật dậy trong bộ đồ ngủ, đứng “nghiêm” cạnh giường, chính mình cũng không biết làm vậy là nghiêm túc hay là tự nhạo báng bản thân và cái tình cảnh oái oăm của mình.

– Thôi đi Nastya, thôi đi. – Stoletov đưa hai cánh tay khỏe mạnh ôm lấy cô, đặt xuống giường, và sau một nụ hôn nồng cháy, anh ta nhìn thẳng vào mắt cô: – Không phải chuyện đùa đâu, Nastya. Việc của em là im lặng. Im lặng mọi nơi, mọi lúc. Em là một chiến sĩ, thư ký quân đội… Còn tôi, tôi biết những người mang trong tim dòng máu cao quý, tôi tin em. Em hiểu chưa? Còn bây giờ, thực hiện nhiệm vụ đi.

Hai người nhanh chóng thay quân phục, Stoletov nhìn vào đồng hồ nói:

– Còn một việc nữa, Nastya ạ, làm tiểu thư công tước của dòng họ Gnedin và sống ở Liên bang Xô viết không dễ dàng đâu.

– Cho đến giờ tôi vẫn sống đấy thôi.

– Thứ nhất, em không sống, chẳng qua là em chỉ tồn tại trong căn hộ của người khác và trong đói nghèo; thứ hai, em còn trẻ và chưa từng phục vụ trong các đơn vị đặc nhiệm của quân đội nên không hiểu biết gì cả… Nói ngắn gọn, Anastasya ạ, tôi cảnh báo em: Quân đội là quân đội.

Cho đến trưa, Stoletov thực hiện nghĩa vụ quân sự của mình khá là cần mẫn. Tuy nhiên, chiến tranh cũng sắp kết thúc và đây không phải là Kenigsberg, nơi phần lớn chủ nhân của nó đã bỏ chạy hết, vì thế mà công việc của trung đội đặc nhiệm không nhiều và Anastasya cũng không vất vả. Khi chỉ huy đơn vị đối xử tốt với Anastasya thì những người khác phải xun xoe, bợ đỡ, tặng cô những món quà nhỏ, nhất là sau khi có một món “đồ giả” nào đó được xác định là “đồ bỏ”, nhưng nó vẫn được chuyên chở về Moskva để đổ đi, còn Anastasya sẽ lập biên bản chính thức và ghi chú vào “sổ cái”. Một cô gái hai mươi tuổi thì hiểu biết gì về sự đời? Xung quanh, mọi người đều xu nịnh cô, rót vào tai cô những lời đường mật, chỉ có bác sĩ của trung đội, một phụ nữ không còn trẻ nữa, lúc chỉ có hai người với nhau đã nhắc đi nhắc lại:

– Đừng có ngu ngốc thế, Anastasya, xung quanh toàn một lũ trộm cắp đấy.

Một thời gian, Anastasya tỏ ra thận trọng hơn trong việc ghi chép, thế nhưng những “đối tượng kinh tởm” lại tìm cách tiếp cận bằng con đường tình cảm:

– Chúng ta bị bội ước, nhưng chúng ta đãđứng vững, dẫu phải hy sinh rất nhiều song vẫn chiến thắng. Ai có thể kết tội chúng ta được? Chính cô cũng mất người anh ruột duy nhất. Làm sao có thể bù đắp nổi. Chỉ có chính chúng ta thôi, không thể tất cả mọi việc cứ trông chờ vào Nhà nước. Người ta vẫn thường nói: Cứ nhờ ai đó, nhưng đừng để bị hớ… Đây, Anastasya ạ, cái này là tặng riêng cho cô. – Người ta đưa cho Anastasya thanh kẹo chocolate, lọ nước hoa và cái ghim cài áo bằng vàng.

Mỗi lần như thế, tim cô đau thắt, có cảm giác một điều tồi tệ nào đó đang diễn ra. Một lần cô không kìm lại được, phải bật lên:

– Tại sao anh không đưa cái bao ấy ra đây? Sao lại xếp ngay vào đồ phế liệu?

Không chỉ có các chuyên gia, mà tất cả mọi người có mặt trong gian phòng lớn định giá tài sản đều chết lặng đi, chỉ có những bước chân mạnh mẽ của Stoletov mới có thể phá vỡ được tình trạng đờ đẫn ấy.

– Đưa cái bao ra kiểm tra. – Stoletov hét lên.

Một trong số những “đối tượng kinh tởm” đã có tuổi khẽ giật khuỷu tay Stoletov, thì thầm cái gì đó. Stoletov nhìn quanh, nhưng đã muộn, mọi cặp mắt đang đổ dồn về phía anh ta.

– Tôi đã bảo phải đưa ra để kiểm tra. – Stoletov nhắc lại bằng một giọng vừa phải, thoáng chút bực bội.

Lại một phút im lặng nặng nề. Trưởng đoàn giám định, đồng thời là chính trị viên không hề tỏ ra bối rối. Ông ta đã làm dịu đi sự căng thẳng khi cố tình làm ra vẻ khoa trương, gượng gạo bằng cách khẽ nhấc chiếc bao lên, xoay một vòng nhưđang nhảy trên sân khấu chẳng phù hợp chút nào so với tuổi tác, rồi nói bằng giọng hoa mỹ ngọt xớt:

– Các đồng chí! Theo lệnh cấp trên, chúng ta cần phải nâng cao tinh thần cảnh giác. – Ông ta giơ một ngón tay lên.- Tốt lắm, chiến sĩ Afanasieva. Nhân dịp Chiến thắng và vì tinh thần phục vụ, chúng ta nên đề nghị lên lãnh đạo phong quân hàm thượng sĩ trước thời hạn và có phần thưởng xứng đáng cho cô ấy…

– Làm ngay đi! – Ai đó trong phòng hét lên.

– Thưởng cái túi cho cô ấy! – Tất cả bật cười ầm ĩ.

– Cái gì?! – Ông trưởng nhóm “kinh tởm” vẫn tiếp tục vai diễn của mình. – Chúng ta sẽ làm một cuộc đố vui. Đồng chí Afanasieva, hãy đoán xem trong túi có cái gì, chỉ ba lần thôi, nếu đoán đúng, đồ vật trong túi sẽ thuộc về đồng chí.

– Để chỉ huy nói, mời đồng chí! – Những người đứng quanh bàn giám định cùng la lên.

Vụ việc này liên quan trước hết đến danh tiếng của trung đội trưởng. Không ai khác ngoài Stoletov biết rất rõ, đâu đâu cũng có đặc vụ, nhất là trong các đơn vị đặc nhiệm. Dẫu chẳng thích thú gì, nhưng Stoletov vẫn cố nặn ra một nụ cười, hưởng ứng vở diễn, lắp bắp thốt lên:

– Tôi đồng ý.

Lúc này mọi cặp mắt đều đổ dồn về phía Anastasya.

– Có thể trong bao có con mèo?

– Đồ phế thải đấy, Anastasya… Đừng để bị khiêu khích!

– Mở đi, mở đi, can đảm lên! – Mọi người hét to.

Ngay từ đầu khi vừa nhìn thấy cái bao, không hiểu sao Anastasya bỗng trở nên bối rối lạ thường. Cặp mắt to, chất phác của cô mở to hơn: Đầu tiên cô nhìn Stoletov, sau đó lướt nhanh qua mọi người, rồi thận trọng đặt tay lên chiếc bao, như sợ làm hỏng nó và khẽ nói:

– Đây là cây đàn violon.

Ông trưởng đoàn giám định hốt hoảng đưa tay lên che miệng, mọi người đều lặng đi, còn Anastasya thì nín thở.

Không ai nhúc nhích. Anastasya bắt đầu mở ra. Bên trong cái bao bằng vải đay thô bẩn thỉu, còn một cái bao nữa bằng vải len lông cừu vẫn còn mùi thơm, được may chần, vừa khít, có tay xách và hàng cúc. Anastasya mở cúc ra, bên trong là chiếc hộp đàn, đôi chỗ bị trầy bạc phếch, còn bên trong là cây vĩ cầm.

Ông dượng của Anastasya cũng có một cây vĩ cầm rất tốt, màu gỗ giống y như thế này. Anastasya còn nhìn thấy và cầm trên tay nhiều cây vĩ cầm khác, tốt hơn cây của ông dượng. Nhưng cây vĩ cầm này, có thể thấy rõ là tuyệt tác của một người thợ thiên tài, không được chạm tay vào.

– Nó là của tôi! – Ngực Anastasya như vỡ ra vì xúc động và sung sướng.

– Của cô, của cô! – Mọi người đồng thanh hét lên. – Chỉ có điều, hãy chơi đi! Có thể nó bị hỏng rồi cũng nên! Cũ lắm rồi, nhìn kìa, gãy mất bây giờ.

Anastasya lướt ngón tay vào dây đàn, sau đó rất nhẹ nhàng đặt cây đàn lên vai nhưép vào máđứa trẻ. Thoạt đầu cô kéo cây vĩ chậm rãi, nhẹ nhàng, ngay sau đó, một âm thanh trong veo tuyệt vời vang lên, tràn đầy cảm xúc nồng nhiệt, đến nỗi tất cả mọi người đều há hốc miệng, những giai điệu nhưùa ra, tràn ngập khắp không gian. Với vóc dáng mảnh mai, kiều diễm như cây đàn, Anastasya như hòa vào làm một cùng với nó, đôi mắt hơi khép lại trong niềm khoái lạc, cơ thể uốn lượn uyển chuyển theo từng nhịp của giai điệu bốc lửa. Khi Anastasya kết thúc bản nhạc, khuôn mặt cô đỏ bừng, đôi mắt lấp lánh, đắm say, trán đẫm mồ hôi, chảy từng dòng theo chiếc cổ mảnh mai.

– Anastasya, sao trước đây cô không chơi như vậy? – Một số đồng nghiệp tỏ ý bực bội.

– Chơi bằng cái gì, bằng đàn gió ở câu lạc bộ thôn hả? – Những người khác đáp thay cô.

– Trật tự đi! Để cô ấy chơi nữa.

Anastasya chơi tiếp hai bản nhạc nữa, bản sau giai điệu lâm ly, tha thiết, u buồn. Cuối cùng, cô duyên dáng nghiêng người chào như trên sân khấu:

– Cảm ơn mọi người đã chú ý lắng nghe. – Kể từ ngày nhập ngũ, chưa khi nào khuôn mặt Anastasya rạng rỡ đến thế. – Hôm nay thế là đủ rồi. Với một nhạc cụ như thế này, không nên dùng nhiều.

Có cảm giác như Anastasya không phải đang trong quân ngũ mà như trong buổi hòa nhạc, cô cầm tất cả lên, kể cả cái bao tải cũ bẩn rồi ra khỏi phòng. Ai đó ngập ngừng vỗ tay vài cái, mọi người đồng loạt vỗ theo.

– Bis, bis! Nữa đi! Hoan hô! Cô xứng đáng được nhận nó đấy!

Anastasya không thể làm thư ký cho đơn vị được nữa. Như một nghệ sĩ công huân và nữ chủ nhân tòa lâu đài, cô đi lại khắp nơi, phong thái kiều diễm, chẳng khác gì một thần tượng. Buổi tối, khi chỉ còn lại hai người với nhau, Stoletov hôn tay cô, nhã nhặn nói:

– Em là một tạo vật kỳ diệu! – Ngừng một lát, anh ta lại thì thầm ngọt xớt: – Cây vĩ cầm ấy rất quý đấy, phải trả lại.

– Trả cho ai? Cho các “đối tượng kinh tởm” à?

– Hả! – Stoletov ngạc nhiên. – Thế “đối tượng kinh tởm” là ai?

Anastasya liệt kê ra vài cái tên.

– Cái gì?! Ha, ha, ha! Lạy Chúa tôi, đúng thế, đúng là những “đối tượng kinh tởm”. – Stoletov bật cười hô hố rất lâu, khi đã bình tâm lại anh ta tiếp: – Hy vọng tôi không nằm trong số đó chứ?

– Ồ không, không. Anh là người thân của em, người thân! – Anastasya dịu dàng ôm cổ Stoletov rồi hôn vào má, vào tai. – Anh đã công khai tuyên bố trước mọi người tặng cây đàn cho em! Phải vậy không, chàng sĩ quan!? – Anastasya nhìn thẳng vào mắt Stoletov.

– Đó là một vật rất quý, rất đắt.

Anastasya bật dậy, đứng chống nạnh, quay mặt đi rồi nói như nói với bức tường chứ không phải với Stoletov:

– Nhiều đồ vật còn quý giá hơn nhiều, nhưng không chỉ một lần tôi đã phải đưa vào danh sách đồ phế thải. – Giọng nói và tư thế của cô toát lên sự phản kháng.

– Thôi ngay đi! – Viên sĩ quan cũng bật dậy, bực bội giật áo cô, hét lên.

Tiếng hét cùng với vóc dáng cao to, dữ dằn của Stoletov đưa ngay Anastasya trở về với thực tại. Cô không thể “đứng nghiêm” theo đúng quân lệnh nữa, mà ngược lại cả người như rũ ra, vội vàng đưa tay lên ôm đầu, nhưng vẫn đáp lại theo kiểu nhà binh:

– Xin lỗi. Tuân lệnh, tôi sẽ không nói thế nữa. – Anastasya ủ rũ thốt lên.

Stoletov nặng nề thở phào, cứ nhìn mãi lên trần nhà, sau đó vừa đi đi lại lại trong phòng vừa đốt thuốc lá liên tục, tay chắp sau lưng như thường lệ. Tuy nhiên, đó không phải là những bước đi ngày nào dọc theo hành lang trường đại học nữa. Ngay cả niềm vui chiến thắng cũng không làm cho Stoletov hưng phấn, có một gánh nặng trách nhiệm nào đó đang đè nặng lên vai anh ta, làm tóc hai bên thái dương bạc trắng: Có thể thấy rõ, Stoletov đang đứng ở ngã ba đường, không biết phải hành động thế nào.

– Nastenka, – mỗi khi thân mật Stoletov thường gọi cô như vậy. – Em có muốn cây vĩ cầm ấy không?

Anastasya có cảm giác nhưđó là câu hỏi của Ông già Tuyết[8] trong truyện cổ tích Nga.

– Em rất muốn, nếu có thể.

– Em có biết nó đáng giá bao nhiêu không?

– Vô giá. – Anastasya khịt mũi rồi lau nước mắt nhưđứa trẻ. – Tất nhiên, em không xứng đáng được có nó vì chủ nhân đích thực của nó vẫn còn ở đâu đó.

Stoletov lại nặng nề thở dài.

– Chỉ có em là xứng đáng được sở hữu nó. – Không nói thêm gì nữa, Stoletov bước ra ngoài.

Anastasya biết, các “đối tượng kinh tởm” quan trọng nhất đang đợi Stoletov ở phòng bên như mọi khi, và nếu như họ to tiếng hơn mọi ngày tức là đang cãi nhau, cuộc mặc cả đang diễn ra. Lát sau, Stoletov quay lại, mặt mũi đỏ gay, vẻ tức giận:

– Không chỉ “kinh tởm” mà còn là… – Anh ta thô bạo văng tục. – Em có biết, tôi phải trả giá như thế nào cho cây vĩ cầm đó không?

Anastasya im lặng… Bây giờ là một cuộc mặc cả khác, không phải là về đồ vật bắt đầu diễn ra ở đây.

– Anastasya, hãy chú ý nghe tôi nói đây. Từ nay, cây vĩ cầm ấy là của em, còn em, từ nay và mãi mãi về sau sẽ là của tôi… Em đồng ý chứ?

Binh nhì không có quyền mặc cả với trung tá.

– Thưa vâng ạ. – Anastasya cố đứng nghiêm theo quân lệnh.

– Ồ, khô-ô-ông. – Stoletov bước sát lại, mùi rượu phả ra, nắm lấy vai cô khẽ lắc. – Tôi cần lời hứa của tiểu thư công tước dòng họ Gnedin.

Anastasya im lặng rất lâu, mái đầu càng lúc càng cúi xuống thấp hơn, và cô hiểu, nếu không có cây vĩ cầm này thì kết cục của cuộc chiến tranh đối với cô cũng chẳng có nghĩa lý gì.

– Tôi hứa. – Cô buồn bã khẽ thốt lên.

Anastasya nghĩ, từ nay cô sẽ thành nữ nô tỳ, nhưng hóa ra ngược lại, cô có thể làm tất cả những gì mình muốn. Stoletov chỉ im lặng khuyến khích, còn chính anh ta lại càng trở nên trầm ngâm, cau có, đầu óc nhưđể tận đâu đâu. Vào một buổi chiều, Stoletov bảo Anastasya ngồi xuống trước mặt mình. Qua vẻ mặt hốc hác và đầy nếp nhăn, cô hiểu, phải khó khăn lắm Stoletov mới có thể chấp nhận một quyết định nào đó.

– Sắp tới sẽ có xe ô tô, em và… – Ông nêu ra hai cái tên trong số các “đối tượng kinh tởm”. – sẽ lên đường đi Thụy Sỹ.

– Đi là thế nào? Còn mẹ em? – Anastasya không kìm nổi.

– Em sẽ còn nhìn thấy mẹ. Bây giờ em đang ở trong quân ngũ, mệnh lệnh không được bàn cãi mà chỉ thực hiện. Hiểu chưa, binh nhì Afanasieva?

– Thưa, vâng ạ.

– Nói chung, em sẽ ra đi như một kẻ đào ngũ, sau đó sẽ thực hiện nhiệm vụ của chúng ta.

– Thế còn anh?

– Sau hai, ba tháng nữa tôi sẽ đi theo em, chúng ta sẽ sống ở London, có lẽ vậy.

– Thế còn mẹ? – Anastasya nhắc lại điều mình quan tâm.

– Em sẽ sớm gặp lại mẹ… Nhưng không được hé ra với bất cứ ai, kể cả với mẹ, nhất là với những người mà như em gọi là “đối tượng kinh tởm”, ha-ha-ha, lại càng không được. Em hiểu chưa?

– Thưa, vâng ạ.

– Thôi, nghỉ. Bây giờ em gần như là một thường dân, nhưng phục vụ Tổ quốc là công việc suốt đời. – Stoletov lấy thuốc ra hút rồi nói tiếp: – Ngày mai em sẽ vào thành phố mua mấy bộ quần áo phụ nữ địa phương thường mặc, cả đồấm nữa, vì sẽ phải đi qua dãy Alpes, người ta bảo ở đấy vẫn còn tuyết.

– Thế còn cây vĩ cầm?

– Em chỉ có thể mang theo người một bọc hành lý. Nếu muốn tôi có thể giữ cho em.

– Không, em sẽ mang theo.

– Tùy em thôi… chỉ có điều hãy đề phòng các “đối tượng kinh tởm”. Tôi thấy họ đang để ý đến cây đàn và chính bản thân em đấy.

– Thế tại sao anh lại bắt em đi với họ?

Stoletov nhìn thẳng vào mặt cô, lườm một cái:

– Nhiệm vụ là như vậy. – Một tiếng thở dài nặng nề.

– Nhiệm vụ với những kẻ có thể phản bội.

– Hả? Cái gì? – Stoletov tức giận hỏi lại.

Anastasya chỉ im lặng. Ngày hôm sau, không cần ai đi theo bảo vệ, một mình cô đi xuống thành phố và đến chiều tối mới quay về. Cũng trong ngày hôm đó đơn vị trải qua một cơn kinh hoàng: Một tổ công tác rơi vào hỏa lực quân địch, nhiều người hy sinh, hai chuyên gia quan trọng nhất trong số các “đối tượng kinh tởm”, đồng thời là chiến hữu thân cận của Stoletov mất tích, người ta đồn bị bắt làm tù binh. Stoletov ngồi lì một mình trong phòng, uống khá nhiều, mắt lồi ra, đỏ ngầu, giận dữ, chỉ cho mỗi Anastasya vào.

– Chúng đã lừa tôi như lừa một đứa trẻ, lũ súc sinh! Ôi, ôi! – Stoletov đấm nhưđiên xuống chiếc bàn gỗ dày, làm mọi thứ trên bàn nảy tung lên, rồi quay về phía Anastasya: – Tôi sẽ tìm ra! Nhất định tôi sẽ tóm cổ hai thằng đó, sẽ xé tan xác cái lũ “kinh tởm” của cô ra!

Stoletov bị gọi lên Ban chỉ huy sưđoàn, người ta đồn anh ta bị tước huân chương “Quang vinh” và quân hàm đại tá vừa mới phong. Trung đội đặc nhiệm bị giao về cho sưđoàn và bị giải thể. Anastasya được điều về đại đội nữ, và hóa ra chính đại đội nữ là đơn vị đầu tiên được trở về Tổ quốc.

Anastasya hạnh phúc vô cùng. Cô không muốn nhìn mặt Stoletov nữa, chỉ mãi đến khi được thông báo còn hai ngày nữa là lên đường, cô mới chợt nghĩ, nên đến chia tay với anh ta. Và nhưđoán được ý nghĩ của cô, một nhân viên trong số các “đối tượng kinh tởm” bỗng xuất hiện ở đại đội nữ.

– Cô Afanasieva, đồng chí Stoletov cho gọi cô.

Người ta đưa cô lên xe ô tô, chạy khoảng mười phút ra khỏi đơn vị, vào rừng, dọc theo sườn đồi, đến gần con sông nhỏ nước chảy xiết, tới một ngôi nhà nhỏ gọn gàng theo phong cách của người Đức, xa hơn một chút hình như là nhà tắm hơi, có khói trắng bốc lên. Trong sân, các chiến sĩ người Uzbek đang nấu món cơm rang trộn thịt trong chiếc chảo to, cạnh đó một con lợn sữa đang nướng trên than hồng. Và người đầu tiên Anastasya nhìn thấy lại chính là Stoletov: tỉnh táo, khuy áo gài đầy đủ theo đúng điều lệnh, bưng khay đồ ăn.

– Ôi, Afanasieva, Nastya, em đấy à? – Chút nữa thì Stoletov đánh rơi khay đồ ăn, vội đặt nó xuống đất và đưa cô sang một bên: – Sao em lại đến đây?… Ôi, bọn khốn nạn, lũ đê tiện! Em hãy chạy đi, nhanh lên, cứ theo đường cũ ấy là về đến đơn vị, đừng thò mặt ra nữa…

– Đại tá Stoletov. – Một giọng lè nhè vang lên ngay sau lưng. – Anh giấu giếm lãnh đạo ôm ấp với ai ở đây thế? À, à! Cô ta đây rồi, người tình của Stoletov đây rồi! Hóa ra là anh đã qua mặt chúng tôi giải trí với cô bé này.

– Trông cũng được đấy, không đến nỗi tệ lắm. – Một vị tướng khác hiện ra nơi ngưỡng cửa.

– Có mang theo cây đàn violon không?

– Mời quý cô ngồi vào bàn đi! – Từ ngôi nhà nhỏ, nhiều vị tướng, tá ùa ra.

– Hóa ra Stoletov không phải là thằng ngu.

– Các cô gái của chúng ta tuyệt thế đấy! Còn cái đám đàn bà địa phương, các vị có thấy không? Thật kinh tởm!

– Tôi đã nói rồi, hãy mời người phụ nữ Nga, người chiến sĩ Xô viết chiến thắng vào vị trí danh dự đi.

– Này Stoletov, cậu chạy đến đơn vị cô ấy mang cây đàn về đây.

– Nào, hãy vui chơi lần cuối… Rót vodka đi!

Bên bàn, mặc dù không có món cơm rang trộn thịt và lợn sữa nướng nhưng đầy ắp các món sơn hào hải vị, mọi thứ có vẻ quy củ, nghiêm túc hơn nếu không tính đến những câu văng tục thường xuyên. Binh nhì Afanasieva bị bắt “cạn cốc” vì “Chiến thắng!”, vì “Tổ quốc và đồng chí Stalin!” và vì “Phụ nữ Xô viết!”. Anastasya không thể uống thêm được nữa, chưa bao giờ cô say đến thế, toàn là loại cốc vại nhiều cạnh.

Có một lúc nào đó, cô đi tìm và hỏi về Stoletov, nhưng liền đổ gục ngay xuống cạnh bàn. Lát sau tỉnh dậy, cô thấy đang được dìu vào nhà tắm… Đêm, một sĩ quan nào đó đưa cô ra suối “súc rửa” trong làn nước lạnh ngắt rồi chở về đơn vị.

Sáng hôm sau Anastasya không thể dậy được, cả người đau ê ẩm, đổ mồ hôi, đầu đau nhức.

– Thật đáng đời con điếm. – Chị cấp dưỡng của đại đội kêu lên. – Trong khi nó chơi đàn thì bao nhiêu tài sản của nhân dân bị cái bọn khốn nạn ấy tha đi mất.

– Thôi im đi! Cút ra khỏi đây! – Chị bác sĩ đại đội bước vào quát. – Chẳng qua là không có ma nào thèm để ý đến cô, nên cô mới hả hê thế… Nào, tránh ra. – Bác sĩ cúi xuống Anastasya rồi sau khi khám toàn thân, chị nói: – Cần phải đưa đi bệnh viện ngay, rất có thể cô ấy bị tụ máu não.

Khi Anastasya được đưa lên cáng, cô vội nắm tay bác sĩ:

– Còn cây vĩ cầm? – Cô thều thào bằng một giọng khàn khàn.

Chị bác sĩ cúi xuống, ghé sát tai cô:

– Hôm qua có một cuộc khám xét, cái bao của cô đã bị lấy đi rồi. Ngay sau đó ông Stoletov cũng xuất hiện, cũng hỏi về cây đàn, rồi đi cùng với họ.

Tình trạng sức khỏe của Anastasya càng thêm suy sụp, cứ như tâm hồn cô đã bị giẫm nát tan tành.

Anastasya là người cuối cùng được quân y viện giải phẫu. Cô vẫn còn gặp may: Bác sĩ trực tiếp phẫu thuật cô cũng chính là bác sĩ trưởng của quân y viện đã ra lệnh đưa bệnh nhân của mình lên đoàn tàu y tế để ông có thể theo dõi tình trạng sức khỏe của cô cho đến tận Moskva.

Vào những ngày đầu tiên của tháng Bảy năm 1945, Anastasya, mặt mũi bợt bạt, đầu cạo trọc, xuất hiện trước những người thân. Mấy ngày liền, không hiểu sao cô không dám bước ra đường. Anastasya kể cho mẹ nghe hầu như tất cả mọi chuyện, hai mẹ con cùng khóc. Cô kể cho dượng nghe về chiếc đàn violon của mình. Ông dượng không tin, liền leo lên căn gác lửng bằng chiếc thang gãy, nhón chân vất vả lôi ra chiếc hộp đàn được giấu kỹ rồi lấy ra cây vĩ cầm của mình. Ông ngắm nghía, vuốt ve nó rất lâu, sau đó chơi một bản nhạc rồi hỏi Anastasya mà như hỏi mọi người:

– Chẳng lẽ âm thanh của nó còn hơn cây đàn này? Tiếc thật, tiếc thật, giá được nhìn và được sử dụng nó, dẫu chỉ một lần.

Có thể nói, lần đầu tiên Anastasya mỉm cười rồi cười thoải mái là khi Zhenya Zverev xuất hiện. Và cũng chỉ có Zhenya mới có thể đưa Anastasya vào thành phố. Moskva, thủ đô của quốc gia chiến thắng tràn ngập niềm hân hoan, vui mừng. Và Anastasya cũng muốn hân hoan, thư giãn, vui vẻ – lúc còn ở trong quân ngũ đã bao lần cô mong ước điều đó – nhưng không hiểu sao giờ đây cô lại không thể. Có một điều gì đó đang giày vò, hành hạ và chế ngự cô. Anastasya có cảm giác, những nụ hôn cùng với sự chăm sóc chân thành và vụng về của Zhenya như là sự trong trắng của tuổi dậy thì. Zhenya là người hạnh phúc, anh ấy vẫn như xưa: Nếu không giống như thời niên thiếu thì là thời trai trẻ, chỉ có trong lĩnh vực âm nhạc là Zhenya trưởng thành lên rất nhiều, còn trong cuộc sống thì chẳng hiểu biết gì. Đối với Anastasya, Zhenya vẫn là chàng trai tốt bụng, đáng yêu và có giáo dục. Cô vẫn thích Zhenya và đó cũng là ý nguyện của mẹ, bà không cần một chàng rể khác, nhưng không hiểu sao, Anastasya lại cảm thấy buồn bên anh ấy. Họ vẫn trò chuyện, cười đùa, dạo chơi, nhưng Anastasya lại có cảm giác mình như một người mẹ, lúc nào cũng phải giám hộ, bảo vệ Zhenya như một đứa trẻ – cô không thể làm khác. Bản thân Anastasya lớn lên không có cha, suốt đời chỉ mong có một người cha, có một sức mạnh ruột thịt để cô có thể giữ gìn, chăm sóc và mang theo suốt cả cuộc đời vào một tương lai tươi sáng. Còn Zhenya? Zhenya là một chàng trai đáng yêu, và trước lời đề nghị “kết hôn” của anh ấy, cô chỉ mỉm cười một cách khoan dung và hiểu rằng, chẳng bao lâu nữa cô sẽ nói “vâng”, hơn nữa mẹ cô luôn hối thúc làm lễ đính hôn, rồi lễ cưới với đầy đủ các nghi thức của tín đồ chính thống giáo.

Zhenya yêu Anastasya đến mức có thể chấp nhận mọi điều kiện. Chỉ có cha mẹ Zhenya là không muốn nghe nói đến lễ đính hôn. Họ là những người không theo đạo, là đảng viên cộng sản, và nói chung đối với họ, hai mẹ con cô có nguồn gốc xuất thân từ một dòng dõi cổ hủ nào đó và rất có thể sẽ bị các cơ quan có thẩm quyền để mắt tới.

Nói ngắn gọn, từ xưa tới nay, thế giới đầy rẫy những điều mâu thuẫn hòa bình như vậy, và cầu Chúa đừng có các mâu thuẫn khác. Nhưng khi Anastasya vừa mới hòa nhập vào với đời sống thường nhật thì đột nhiên có một cái giấy triệu tập. Không thể đùa với chính quyền được. Với sự hộ tống của dượng, cùng với cái cảm giác trống ngực đập thình thịch đã quá quen thuộc, Anastasya có mặt ở Ban quân quản, nhưng ở đây người ta lại mỉm cười chúc mừng cô:

– Để chào mừng cô và các cựu chiến binh, trường đại học cũ, nơi cô từng theo học và từ đó ra thẳng mặt trận, sẽ tổ chức một buổi dạ hội long trọng, và sẽ có quà nữa.

Anastasya mong chờ món quà. Để chào đón sự kiện trọng đại này cần phải chuẩn bị chu đáo, và mối lo nhất chính là tìm một chiếc khăn choàng phù hợp để che đi cái vết mổ trên đầu, món quà của Stoletov. Anastasya không biết vị cựu chỉ huy của mình sẽ xử sự ra sao, song cô vẫn bị cuốn vào cái âm mưu này. Nhưng chẳng có âm mưu nào cả, Stoletov không có mặt ở buổi lễ, người ta hỏi cô về Stoletov cùng với bao lời đồn đại – nào là Stoletov bị đày đi Magadan, nhưng có người lại bảo anh ta làm cán bộ ngoại giao ở Hoa Kỳ. Anastasya không tin điều gì cả, trường hợp thứ nhất thì Stoletov xứng đáng bị như vậy, còn trường hợp thứ hai thì đó là mong ước của anh ta.

Buổi dạ hội được tổ chức theo phong cách của những người Bolsevich, hơi có vẻ cầu kỳ và đơn điệu, song tặng thưởng thì rất nhiều, nhất là đối với Anastasya. Hóa ra, trong khi trung đội đặc nhiệm của cô lang thang hết chỗ này đến chỗ khác, người ta đã không kịp tặng thưởng cho cô. Bây giờ cô đã là thượng sĩ cận vệ, được thưởng rất nhiều huân huy chương.

– Thưa các đồng chí, điều quan trọng nhất là vào những ngày cuối cùng của cuộc chiến. – Một vị đại tá, chắc là một con chuột hậu phương, thuộc loại “đối tượng kinh tởm” nói rất hùng hồn: – Trong cuộc tổng tiến công vào Berlin, ngay tại trung tâm đầu não của Hitle, một nữ chiến sĩ giải phóng Xô viết, một cô gái dũng cảm và đáng yêu của chúng ta đã bị thương nặng vào đầu!

Anastasya hoàn toàn không chờ đợi một món quà như thế. Vậy là không cần rào trước đón sau, Ban giám hiệu nhà trường quyết định, công nhận Anastasya là sinh viên đã tốt nghiệp, xếp hạng xuất sắc – điều này thì cũng gần đúng với sự thật, và chân dung của cô, từ nay và mãi mãi về sau sẽ được treo trên bảng danh dự. Hoan hô!

Vào những ngày ấy, tất cả mọi việc mới được làm sáng tỏ, Anastasya tình nguyện ra mặt trận là từ Học viện Âm nhạc, chuẩn bị lên năm thứ hai. Ở Học viện Âm nhạc mọi việc khác hẳn, con người cũng khác, buổi dạ hội cũng diễn ra thoải mái hơn, đúng nghĩa là một ngày lễ với âm nhạc và những câu bông đùa vui vẻ. Anastasya chuẩn bị cho buổi dạ hội ở đây theo cách khác: Ông dượng phải rứt ruột giao cây vĩ cầm cho cô, rồi suốt cả buổi dạ hội cứ phải bám theo cô, một phần vì lo cho con riêng của vợ, một phần vì lo cho cây vĩ cầm của mình. Sau buổi dạ hội, khi mọi người vây quanh Anastasya, không phải vì tiết mục biểu diễn của cô mà vì cây đàn quý, ông dượng phải lách qua đám đông, năn nỉ:

– Xin đừng đụng vào cây đàn, xin lỗi! Nastya, không nên sử dụng cây đàn quá mức như vậy. Nó đã hết thời của mình rồi.

– Đúng thế. – Một phụ nữ mập mạp mặc quân phục, hoàn toàn không liên quan gì đến âm nhạc và Học viện Âm nhạc nhưng lại có trí tuệ của một người Bolsevich, tán thành ý kiến của ông: – Có thể thấy rõ, đó là một hiện vật quý hiếm. Sao không đưa nó vào bảo tàng, làm tài sản chung của nhân dân. Đúng là tư tưởng tư hữu! Tiểu thị dân!

Ông dượng há hốc miệng, mắt trợn ngược vì khiếp sợ, vội gạt hết mọi người ra, thô bạo giật cây đàn trên tay Anastasya rồi cắm đầu chạy. Mãi đến nửa đêm ông mới về đến nhà, xin lỗi Anastasya và vợ, và để đề phòng mọi chuyện, ông giải thích, cây vĩ cầm là di vật của dòng họ ông được thừa kế, ông đã giấu nó ở nhà nghỉ của một người bạn ở ngoại ô Moskva.

Tuy nhiên, số phận đã quyết định không để cho một gia đình gắn bó với âm nhạc và nghệ thuật phải thiếu một nhạc cụ xứng đáng.

Sau ngày lễở Học viện Âm nhạc, Anastasya và Zhenya đi xem phim. Anastasya về nhà rất khuya nhưng mẹ và dượng vẫn chưa ngủ, vẻ mặt bối rối.

– Con gái ạ. – Tay dượng run run. – Có một người đàn ông, dáng vẻ đường bệ trông như người ngoại quốc, nhờ chuyển cho con cái này… Chúng ta không nén nổi tò mò, mở ra xem. Con nhìn đây, dượng cũng không dám chơi nó.

Cảm xúc đầu tiên là niềm vui mừng khôn xiết. Anastasya cầm cây vĩ cầm lên, hôn hít mãi, còn khi cô bắt đầu chơi, ông dượng phải ngồi vật xuống ghế kinh ngạc kêu lên. Ông nôn nóng đề nghị cho ông thử một chút.

– Âm thanh này, cả nước chúng ta không nơi nào có. – Dượng ngạc nhiên thốt lên.

Sau đó, mãi đến khuya dượng dùng kính lúp xem xét kỹ lưỡng từng milimet trên thân đàn và phát hiện ra hai nhãn hiệu. Ông run run thì thào vào tai Anastasya:

– Nastenka, một vật như thế này, không thể giữở nhà được đâu. Đây là…

– Đây là cây vĩ cầm của con. – Anastasya cắt ngang, rồi cầm cây đàn lên, gói lại như một vật gia dụng bình thường: mọi thứ vẫn như cũ, hộp đàn, bao vải len và ngoài cùng là cái bao bằng vải đay thô bẩn thỉu.

– À, Nastenka, dượng quên chưa nói. – Ông dượng như già hẳn đi vì cú sốc. – Trong hộp đàn còn có tờ giấy này.

Trên tờ giấy láng rất hiếm vào thời đó chỉ có hàng chữ to: “Âm nhạc – lời hứa”.

– Nó có nghĩa gì vậy? – Người mẹ tò mò.

– Con không biết. – Cô con gái cụp mắt xuống.

Cây đàn lại được giấu trên căn gác lửng và được ngụy trang bằng một đống đồ cũ nữa. Đêm ấy, không ai ngủ được. Hôm sau, ngay từ sớm ông dượng đã đến phòng lưu trữ.

– Không còn nghi ngờ gì nữa, đây là cây vĩ cầm của Maldini. – Dượng thì thào, càng tỏ ra lo sợ hơn cứ như là có người đang nghe trộm. – Những đồ vật như thế này không thể cất giấu trong nhà. Đây là hiện vật quý hiếm của bảo tàng. Chiến tranh có thể bùng nổ vì những bảo vật vô giá này.

– Thì chiến tranh đã nổ ra rồi. Thế chúng ta chiến đấu vì cái gì? – Anastasya tỏ ra ngang bướng.

– Phải trả lại cây đàn, hoặc là giao cho Nhà nước. – Dượng tỏ ra lo lắng.

– Vậy thì dượng giao cây đàn của mình đi. – Cô con riêng của vợ bất bình.

– Đồ vật bị đánh cắp phải trả lại. – Cuối cùng người mẹ phải can thiệp.

– Con không ăn cắp! – Cô con gái hét lên. – Con xứng đáng được có nó, con đã làm việc, đã chiến đấu! Mọi người nhìn đây! – Cô tức giận kéo chiếc khăn choàng ra khỏi đầu. – Có cần phải cho mọi người xem những chỗ khác nữa không?! Kể cả những vết thương mà không ai có thể nhìn thấy! Chúng ở trong người con đây! Trong người con! Con xứng đáng được có cây đàn!

Trong cơn xúc động mãnh liệt Anastasya leo lên gác xép, lôi tất cả đồ đạc ra ném lung tung, cầm lấy cái bao:

– Con sẽ đi khỏi đây, đi khỏi đây! Thậm chí cây đàn cũng làm phiền các người.

Mẹ và dượng gần như phải quỳ xuống năn nỉ, cố giữ cô lại và phải khó khăn lắm mới dỗ cô ngủ được. Sáng hôm sau, bằng một giọng ân hận, ông dượng lại đề cập đến chuyện đó:

– Hay là chúng ta cũng gửi cây đàn này đến chỗ nhà nghỉ?

– Không! – Anastasya hét lên, vội vàng lấy cây đàn ra và bắt đầu chơi.

Tâm hồn cô như hòa làm một cùng với âm thanh kỳ diệu của cây đàn, quyện vào nhau tạo nên một sự quyến rũ mê đắm, một nỗi buồn xót xa, có cảm giác như ai đóđã phải ra đi vĩnh viễn, mọi người rưng rưng nước mắt.

– Ta chưa bao giờ thấy một cây đàn nào như thế này. Nào, cho ta chơi với. – Ông dượng đề nghị, rồi sau đó đến lượt mẹ.

Sau đó mọi người không tranh cãi về việc này nữa. Để bù lại, hằng ngày, vào lúc sáng sớm khi tiếng ồn của thành phố chưa thể át tiếng đàn, mọi người trong nhà lần lượt chơi đàn, việc đó mang lại một niềm thích thú kỳ lạ, thậm chí chỉ cần chạm vào cây đàn cũng được…

Mẩu thư Stoletov gửi lại, Anastasya ném đi ngay. Giờ đây, không còn là lúc để nói đến “lời hứa” của một thời nào đó nữa. Phải, Stoletov là người đàn ông đầu tiên và duy nhất của Anastasya, từng là một người đàn ông dễ mến, thậm chí ngay cả bây giờ, ồ không, không, giờ đây cô chỉ nhớ đến anh ta với một sự mệt mỏi của phụ nữ. Nhưng còn về “lời hứa”, làm sao có thể nói đến lòng trung thành sau vụ việc xảy ra với các tướng tá. Và dĩ nhiên, cô hiểu, về nguyên tắc, lúc đó trung tá Stoletov không còn là cái thá gì nữa khi phải tự mình đi lấy đồ ăn cho mình trước mặt các cần vụ. Mà điều đó cũng chẳng có ý nghĩa gì. Nếu muốn, Stoletov có thể giúp cô bằng cách nào đó, đằng này chỉ lo tháo thân mà vẫn không quên cuỗm theo cây đàn. Tuy nhiên, điều đáng ghi nhận là anh ta đã gửi lại cây đàn cho cô – có nghĩa là vẫn còn lòng tự trọng. Giá như không có mẩu thư, có thể họ vẫn là bạn chiến đấu cùng đơn vị. Còn như thế này! Không, không thể nói đến chuyện “lời hứa” gì cả. Mà cô cũng không muốn nhìn mặt Stoletov nữa, nhưng cô lại mơ thấy mình đang ở trong tòa lâu đài với anh ta. Vậy là đôi chân tự đưa Anastasya đến trường đại học. Sau khi biết được địa chỉ của người trưởng khoa cũ, hai ngày liền cô theo dõi khu vực gần nhà Stoletov, hai lần nhìn thấy vợ anh ta và những đứa con đã lớn. Theo lời của các bà láng giềng thì Stoletov là một nhân vật cỡ bự, hoặc là tùy viên quân sự, hoặc là nhà ngoại giao, mà nào biết được, tóm lại, đang sống ở nước ngoài, rất ít khi về nhà.

Nói chung, với tư cách là một người đàn ông, Stoletov có ảnh hưởng đối với Anastasya, ít ra là trong những giấc mơ, nhưng với tư cách là một con người thì từ lâu anh ta đã bị Anastasya xếp vào loại các “đối tượng kinh tởm”, phải vậy chứ không thể khác được. Cùng với thời gian, những nỗi gian truân ngoài mặt trận cũng dần chìm vào quên lãng, trở thành quá khứ, còn Anastasya thì dần bình phục, lấy lại được nhan sắc và nét quyến rũ nữ tính. Giờ đây, không chỉ Zhenya mà còn nhiều chàng trai khác cũng đang cố tán tỉnh cô.

– Chỉ có Zhenya thôi. – Người mẹ khăng khăng nói với con gái và mong muốn nhanh chóng tổ chức đám cưới, còn với Zhenya, bà nói thẳng: – Này, chàng trai, hoặc là cậu cưới con gái tôi, hoặc là để nó yên, chứ chúng tôi không cần những trò “tán tỉnh ma mãnh” đâu. Con gái tôi không còn bé nữa, đã đến lúc lấy chồng rồi. Nhưng không có sự chúc phúc của tôi và lễ cưới ở nhà thờ, nó không sinh nở được đâu.

Dưới áp lực như thế của mẹ vợ tương lai, Zhenya buộc phải “hạ gục” cha mẹ mình – họ đồng ý chúc phúc cho đôi trẻ và cho phép làm lễ cưới ở nhà thờ, trong một ngôi làng hoang vắng ở ngoại ô thành phố, nhưng họ không trực tiếp đến dự mà cho bà nội đi.

Tháng Sáu năm 1946, Zhenya và Anastasya thi tốt nghiệp xong và đã chuẩn bị đâu đấy cho đám cưới thì có giấy triệu tập của ủy ban điều tra Viện kiểm sát quân sự gửi nữ công dân Afanasieva Anastasya Tikhonova với tư cách người làm chứng.

Không thể diễn tả nổi nỗi lo sợ của Anastasya, chỉ cần nhớ lại cái phòng giam của quân đội cũng đủ làm cô mất ăn, mất ngủ. Cuộc thẩm vấn không dài, chỉ mang tính hình thức, và những câu hỏi cũng rất đơn giản: phục vụở đâu, làm việc gì, với ai? Khen thưởng, kỷ luật? Nói chung, cán bộ điều tra chẳng cần hỏi cũng đã biết rõ tất cả những điều đó, yêu cầu cô ký vào biên bản rồi thả ra.

Mọi chuyện tưởng nhưđãêm xuôi, nhưng hậu quả cũng không tránh khỏi. Cha mẹ vị hôn phu Zhenya của cô tuyên bố: “Công dân Xô viết bình thường, nhất là những người trẻ tuổi, không thể dính dáng đến giấy triệu tập của Viện kiểm sát”, và “Liệu có thể trông mong điều gì tốt đẹp ở chính sách ngu dân của nhà thờ?”. Còn chính bản thân Zhenya thì không thể đưa côđến Viện kiểm sát được vì không thể bỏ lỡ một buổi hòa nhạc đột xuất.

Theo đề nghị của Anastasya, mọi người quyết định hoãn ngày cưới lại, mặc dù ngày nào Zhenya cũng đến, giọt vắn giọt dài bày tỏ tình yêu với cô, và hóa ra không phải là vô ích. Một tháng sau giấy triệu tập thứ nhất là giấy triệu tập thứ hai cùng với lệnh bắt giữ. Anastasya chỉ còn biết khóc lóc, run rẩy.

Ngay từ những cuộc thẩm vấn đầu tiên, mọi thứ đã được xác định rõ ràng – giờ đây trước mặt cô là những tài liệu quân đội quen thuộc đến mức làm cô đau nhói: biên bản, bảng thống kê các tài sản quý giá, sổ thu và chi, cuốn “sổ cái” mà vào ngày chiến thắng cô đã viết hai chữ “Hoan hô!”. Hóa ra Anastasya không phải là người chiến thắng. Thoạt đầu, cô định kể hết mọi chuyện, kể cả những gì nhớ và không nhớ, kể hết. Nhưng có một việc rất lạ là khi cô chỉ vừa hé ra cho họ thấy, cô làm việc đó là theo mệnh lệnh của trung đội trưởng Stoletov thì người ta đã cắt ngang: “Việc đó không quan trọng”, và lái câu chuyện sang những người khác, mà theo cấp bậc thì có thể gọi họ là các “đối tượng kinh tởm cấp thấp”. Anastasya hiểu ra rằng, người ta bắt cô – một thư ký làm công việc văn phòng, hai kế toán bình thường và có thể một nhân viên cấp thấp nào đó nữa – tóm lại là những loại tép riu để trút hết mọi tội lỗi lên đầu họ, còn những người khác, quan trọng nhất thì thậm chí cũng không hề bị nhắc đến tên.

Sau một tháng ngồi trong nhà giam, Anastasya như tỉnh ra, cô quyết định viết đơn khiếu nại gửi đến các cấp, thậm chí đến tận Stalin, chẳng thèm quan tâm nó có đến được đúng địa chỉ hay không. Một điều bất ngờ bỗng xảy ra: Cô được phép gặp mẹ. Một căn phòng u ám, ẩm ướt, xung quanh toàn lưới sắt, ánh sáng nhờ nhờ, nữ quản giáo đứng lù lù ngay bên cạnh.

– Thế nào hả mẹ? – Một trong số những câu hỏi đầu tiên của con gái.

Người mẹ liền hiểu ngay câu hỏi ám chỉ đến cây vĩ cầm.

– Chúng ta đổi chỗ rồi. Hừ, hừ. – Người mẹ ho khan. – Có một cuộc khám xét, họ tịch thu cây đàn của dượng, một số thư từ, ảnh… Ngoài ảnh ra, những thứ khác họ đã trả lại… Con ạ, có một người đàn ông cao cao.

– Stoletov?

– Nói nhỏ thôi, con gái… Chính ông ấy đã tổ chức cuộc gặp này và gửi đồ vào cho con. Ông ấy dặn không viết gì và im lặng, “không nhớ gì cả”. Ông ấy hứa, như vậy thì sẽ tốt hơn cho mọi người.

– “Tốt hơn” cho ai? Con sẽ bị mười năm! Khi ra tù con đã ba mươi ba tuổi, thành bà già rồi, còn họ thì ăn chơi khắp châu Âu bằng công sức của con! Tại sao? Vì cái gì?

– Con yêu ơi, mẹ không biết, mẹ chẳng biết gì cả. – Người mẹ khóc nức lên. – Lạy Chúa tôi, mẹ biết làm gì bây giờ? Làm gì?

Chỉ đến lúc này, Anastasya mới nhận ra, chỉ mới hơn một tháng mà mẹ cô đã đau khổ, suy sụp đến mức già sọm hẳn đi. Anastasya hiểu, nếu cô không đứng vững thì chẳng bao lâu nữa mẹ cô sẽ gục ngã hoàn toàn. Cô nắm chặt tay lại, lấy hết nghị lực cố mỉm cười:

– Mẹơi, mẹ làm sao thế? Mẹ cứ yên tâm. Con không có tội. Người ta sẽ xác minh và sẽ thả con ra.

– Hay là… tốt hơn là giao nó? – Câu hỏi lại quay về với cây vĩ cầm.

– Không đời nào! – Cô con gái lạnh lùng đáp. – Chẳng ai quan tâm đến chuyện ấy đâu. – Cô lại cố mỉm cười: – Mẹ hãy cố giữ mình. Mẹ thử nghĩ xem, nếu không có mẹ thì con sẽ ra sao? Con chỉ có mỗi mình mẹ!… Tốt hơn là mẹ hãy cho con biết, Zhenya thế nào?

Người mẹ gục đầu xuống, giấu cặp mắt ướt:

– Tốt lắm, nó gửi lời thăm con. Hừ, hầu như ngày nào cũng đến. Nó đã xin được vào làm ở Nhà hát Quốc gia rồi.

Anastasya không viết đơn khiếu nại nữa, khi bị thẩm vấn cô chỉ im lặng hoặc nói là không nhớ gì nữa. Có thể thấy rõ là cán bộ điều tra hài lòng với điều đó. Trong mọi trường hợp, phiên tòa đã được mở sớm. Sau khi xem xét “công dân Afanasieva A.T. sinh năm 1925, được thưởng nhiều huân huy chương chiến đấu, bị thương… nên tòa tuyên án năm năm tù giam, mỗi tháng được gửi và nhận thư một lần”.

“Sao anh Zhenya không viết thư cho con?” – Trong số những bức thưđầu tiên viết cho mẹ, Anastasya than thở.

“Con yêu ơi!” – Người mẹ trả lời. – “Zhenya đi biểu diễn thường xuyên. Nhưng cậu ấy yêu con, hỏi thăm con luôn… Con cần phải biết, các con đã chịu phép cưới trước Chúa rồi, cậu ấy là hôn phu của con. Nền tảng của việc kết hôn theo luật pháp là nghĩa vụ, còn cốt lõi của nó là sự tin tưởng và tôn trọng lẫn nhau, còn mục đích quan trọng nhất của nó – chính là việc duy trì nòi giống đã được Chúa làm phép thánh! Amen!”

 

[1] Cách gọi âu yếm, thân mật Anastasya.

[2] Tiếng Nga, trong quan hệ công việc phải xưng hô bằng họ.

[3] Sau đại chiến, thuộc lãnh thổ của Liên Xô, được đổi tên thành Kaliningrad.

[4] Viên và Linz: Hai thành phố của nước Áo.

[5] Các bản nhạc của nhạc sĩ thiên tài người Áo Johann Strauss (1825-1899).

[6] Nguyên văn câu thành ngữ cổ: “Nếu núi không đến với Mahomet thì Mahomet sẽ đến với núi”.

[7] Nastya, Nastenka: Tên gọi thân mật của Anastasya.

[8] Giống như Ông già Noel trong truyền thuyết các nước khác.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s